Chúng tôi chọn những
ngày cuối năm để leo lên ngọn đồi lịch sử Charlie, bởi vào lúc này thời
tiết không quá khắc nghiệt để lần mò được đến nơi. Mang theo trong
chuyến đi, những thứ quan trọng
nhất là rượu, hoa và nhang: quà cho những người mà thế hệ chúng tôi
chưa từng biết mặt.
Khác với việc thắp nhang ở nghĩa trang quân đội Biên Hòa, nay nằm trong
địa phận tỉnh Bình Dương, đường đi nghĩa trang không khó nhưng lại phải
chịu sự dòm ngó và hạch hỏi của nhóm gác cổng do công an địa phương cắt
đặt, còn đường
đi đến đồi Charlie chỉ có núi rừng, vài tấm bảng chỉ đường phủ đầy bụi
đỏ. Thi thoảng trên đường có bắt gặp vài người dân tộc Jarai hay Sedang.
Charlie là một chóp đồi cao nằm giữa ba huyện Sa Thầy, Đắk Tô và Ngọc
Hồi, thuộc tỉnh Kon Tum. Đường đi đến đó cheo leo và trắc trở. Chúng tôi
đoán là trước năm 1975, hầu hết cuộc chuyển quân đều dựa trên không vận
mới có thể
nhanh và an toàn. Người Việt trong vùng gọi là Sạc-Li, dựa theo âm
tiếng Anh, mà trong chiến tranh Việt Nam, cứ điểm cao 900m so với mặt
nước biển được quân đội đặt tên, tạo thành tuyến phòng thủ và quan sát
khu vực ngã ba Đông Dương. Nơi đây còn là vùng bảo
vệ cho sân bay quân sự Phượng Hoàng và bản doanh bộ Tư lệnh Hành quân
Sư đoàn 22 Bộ binh ở Tân Cảng của miền Nam.
Việc
đặt tiểu đoàn 11 nhảy dù Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trấn giữ ở đồi
Charlie là một sự khó chịu vô cùng đối với quân Bắc Việt, vì mọi cuộc
chuyển quân ở ngã ba Đông Dương hay từ Bắc vào, qua ngã
này, đều có thể bị phát hiện. Cho nên, trong cuộc tổng tiến công năm
1972 của quân đội Bắc Việt, cùng với một phần của Mặt trận Giải phóng
miền Nam, đồi Charlie là mục tiêu cần phải bị xóa sổ. Cái gai cần phải
nhổ cho đường tiến quân thuận tiện từ Tây Nguyên
xuống đồng bằng miền Nam.
Mùa hè 1972, người ta gọi đó là mùa hè đỏ
lửa. Đỏ lửa là bởi sự nóng bức của thiên nhiên, cộng thêm súng đạn bay
khắp nơi trong một cuộc tương tàn nhân danh giải phóng của chủ nghĩa
cộng sản. Không có số liệu chính xác nào nói
về thương vong của cả hai bên ở đồi Charlie, nhưng dựa trên phần sử
liệu được công bố thì phía Việt Nam Cộng Hòa có tiểu đoàn 11 Song kiếm
Trấn ải (tạm tính khoảng hơn 600 người) đối đầu với quân của sư đoàn 320
Bắc Việt (tạm tính khoảng gần hơn 7,000 người),
chưa kể phía lực lượng Mặt trận Giải Phóng Miền Nam không được công bố,
thì con số ít nhất thiệt mạng sau khi máy bay B-52 bỏ bom rải thảm tái
chiếm, những thanh niên Việt Nam của cả hai bên thiệt mạng, ít ra cũng
phải là 4,000 đến 5,000 người trong trận đó.
Điều đó, có nghĩa rằng chuyến đi mất gần
ba tiếng di chuyển lên đến đỉnh đồi của chúng tôi, nơi đâu cũng có máu
xương người Việt. Từng viên đá, từng khúc quanh, từng ngọn cây… chắc đều
giữ lại phần bí mật nhất chưa bao giờ được
kể lại về số phận không chỉ của từng con người, mà của một dân tộc phải
chịu điêu linh vì cuộc chiến tranh màu lý tưởng cộng sản.
Ngọn đồi Charlie xanh mướt và lặng lẽ giữa
thông xanh, trời mây và gió se sắt lạnh. Đầu ngõ vào cầu treo dẫn đến
chân đồi, chính quyền địa phương đến hôm nay cũng chưa dám ghi rõ ràng
về cuộc chiến này, mà chỉ đơn giản là “Di
tích lịch sử của điểm cao 1015 Charlie và 1049 Delta” – khác với giọng
điệu thường đắc thắng và kiêu ngạo sau 1975, khi mà những di tích thường
có thêm các tấm bia ngợi ca sự anh dũng của quân đội Bắc Việt. Nhưng ở
Charlie, mất mát quá lớn có thể là điều nhà
cầm quyền ngại ngùng không muốn nhắc tới. Hàng năm không chỉ có những
chuyến xe từ Bắc vào Charlie để viếng người thân sinh Bắc tử Nam, mà
chính người miền Nam đứng trên ngọn đồi ấy cũng ngậm ngùi: Ai, điều gì…
đã xô đẩy khiến cho máu xương Việt Nam chia
lìa và chôn vùi thảm khốc đến vậy?
“Đi thăm ông Trung tá Bảo à?”
Chúng tôi đi xe máy, sáu người chở nhau và
tận dụng mọi sức lực tay chân để có thể đến đỉnh đồi, trước khi trời
sụp tối. Có đoạn phải vừa nổ máy xe, vừa đẩy, có đoạn vứt bớt đồ lại vì
quá mệt, mang vác không nổi. Đoạn đường vừa
tạm hết lầy sau mùa mưa, lại khô, trơn và nhiều ổ gà và đá vụn. Mọi
người trong đoàn có lúc mệt đến mức hoa mắt, tay chân bủn rủn, thở không
được vì không khí ngày càng loãng. Anh B., người khỏe nhất trong nhóm,
có lúc đứng lại chắp tay và cầu nguyện “Đã đến
được đây, mấy anh phải giúp tụi em đến nơi thắp hương mời rượu cho mấy
anh”.
Đã 45 năm rồi. Những ngôi mộ, nếu có, thì
giờ cũng đã um tùm cỏ lau. Thịt xương cũng đã là rêu bụi. Chiến địa đã
trở thành rừng xanh bao phủ trên núi, ôm kín mọi nỗi lòng. Đó là chưa
nói nhiều thế hệ đã đi qua, không biết, hoặc
bị tuyên truyền bóp méo tin tức về những người lính Việt Nam Cộng Hòa ở
đây. Vậy mà mấy lần, gặp một người Jarai hay Sedang, thấy chúng tôi
hồng hộc thở trên đường, họ cười thân thiện và hỏi “đi thăm ông Trung tá
Bảo à?”.
Lạ lùng. Sao họ lại biết Trung tá Bảo nhỉ?
Thậm chí bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có tên Người ở
lại Charlie cũng không nhắc gì về tên của người chỉ huy tiểu đoàn Song
kiếm Trấn ải này. Dù sau khi tử trận ở Charlie,
Trung tá Nguyễn Đình Bảo (1936-1972) được truy phong đại tá, nhưng dân
trong vùng vẫn nhớ về một vị Trung tá, giữa hàng ngàn người đã gửi lại
hình hài ở nơi này.
Người ở lại Charlie
Trận chiến Charlie diễn
ra trong một tuần, dữ dội. Quân đội Bắc Việt được điều động tiến vào
Nam, số trang bị và nhân lực được kể là gấp sáu lần quân Việt Nam Cộng
Hòa trấn giữ. Một người lính miền Nam phải chống cự với 6-7 người
lính miền Bắc. Pháo kích và tiến công biển người diễn ra cấp tập trong
ba ngày đầu. Đạn pháo kích đã khiến Trung tá Nguyễn Đình Bảo tử trận vào
ngày thứ hai (12-4-1972), các chỉ huy nối nhau thay quyền kiểm soát
cũng tử trận liên tục.
Không chỉ tấn công mà mục
tiêu của sư đoàn 320 còn là tiêu diệt cho được tiểu đoàn Song Kiếm Trấn
Ải (theo nhà văn Phan Nhật Nam thì sau trận đồi Charlie, tiểu đoàn này
mất 400 quân nhân) nên quân Bắc Việt bao vây và chặn đường
mọi ngã. Thậm chí súng phòng không Bắc Việt còn được chuẩn bị để ngăn
không cho trực thăng tiếp viện. Sau khi không còn đạn dược và lương
thực, những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa còn lại đã rút lui, nhường đường
cho tốp máy bay B-52 bỏ bom hủy diệt toàn bộ
phần Sư đoàn 320 đang tràn lên ở đây. Charlie phút chốc thành bình địa,
kể cả những bộ đội từ Bắc vào, cho đến những thân xác còn nằm lại của
những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa.
Mọi nỗ lực tấn công hao
tổn về con người và súng đạn của phía quân chính quy Bắc Việt hoàn toàn
thất bại. Có lẽ vì vậy mà trong wikipedia Việt ngữ nói về Sư đoàn 320,
chiến sử Charlie đã không được ghi lại cũng như cũng cố ý không
nhắc tới, trong các mục viết ca ngợi danh tiếng của Sư đoàn này.
Nói về trận đánh đó, vùng đất đó, nhà văn Phan Nhật Nam có viết trong bài Người ở lại Charlie:
“Bi kịch không riêng
đối với những người lính Tiểu Đoàn 11 Dù, qua lần đi khuất của Cố Đại Tá
Nguyễn Đình Bảo – Nhưng cũng là bi kịch của mỗi thân phận Người Miền
Nam hiện thực qua hy sinh xả kỷ của Người Lính, sự chịu
đựng âm thầm của Người Vợ-Đứa Con Người Lính. Nỗi Đau kia hằng mới vì
Nỗi Đau Luôn Là Nỗi Đau Chung, cùng với những dấu tích kỳ diệu miên viễn
của Tình Yêu trong đời sống trần thế giới hạn của nhân sinh”. (trích)
Cuối năm 1972, quân đội
Việt Nam Cộng Hòa có tổ chức dựng bia tưởng niệm trên đỉnh đồi để tưởng
các quân nhân đã hy sinh trong cuộc chiến, và ghi nhớ nơi tử trận của
Đại tá Nguyễn Đình Bảo. Nhưng rồi sau 1975, chính quyền địa
phương theo lệnh từ Hà Nội đã cho đập phá tất cả. San bằng mọi thứ.
Nhưng đáng ngạc nhiên, là chính nhà cầm quyền Bắc Việt cũng không hề
dựng bất kỳ bia tưởng niệm nào cho hàng ngàn người lính của họ đã thiệt
mạng ở nơi này.
Mãi cho đến giữa thập
niên 1990, những đoàn thân nhân từ miền Bắc vào để viếng, nơi con em của
họ đã để lại tuổi xuân trên ngọn đồi Charlie mới góp tiền cùng nhau
dựng một bàn thờ, hương khói. Còn về những người miền Nam, không
biết ai đó đã ùn một đống đất, tựa như một gò nhỏ, hay có thể là một
nấm mộ tượng trưng cho những ai lên thắp hương cho Đại tá Nguyễn Đình
Bảo và những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa. Và dù rất khiêm tốn, không có
bia hay chữ ghi chú nào, nhưng mọi người đều
biết nếu thắp nhang cho những người miền Nam, thì đến đó.
Giải oan cho cuộc biển dâu này
Khi cả nhóm loay hoay trên ngọn đồi, lúc
chiều xuống đậm rồi, vẫn không biết là nơi nào để hướng đến, thì chính
một người trẻ tuổi địa phương bất ngờ có mặt xuất hiện trên đó chỉ giúp,
“nơi của ông Bảo”, hay nơi để viếng những
người cùng ông ngã xuống, cũng vậy.
Hương bay theo gió, những cánh hoa vàng
phất phơ trên cỏ. Tôi chợt nhớ đến phần cuối trong Đồi gió hú của Emily
Bronte, rằng “dưới những cành hoa phất ấy, những người nằm dưới nấm mộ
ấy có thật sư yên nghỉ không?”. Không có ai
trả lời tôi suy nghĩ đó, chỉ có tiếng gió rít qua từng hồi như tiếng
thở than.
Chúng tôi chọn những ngày cuối năm để leo lên ngọn đồi lịch sử Charlie, bởi vào lúc này thời tiết không quá khắc nghiệt để lần mò được đến nơi. Mang theo trong chuyến đi, những thứ quan trọng nhất là rượu, hoa và nhang: quà cho những người mà thế hệ chúng tôi chưa từng biết mặt.
Con đường xuống núi nguy hiểm và khó khăn
hơn cả lúc đi lên, vì chung quanh là bóng tối, đường lầy với cát khô và
đầy khúc quanh đốc xuống thẳng đứng. Nhưng bên cạnh chuyện việc lo lắng
đi ra, ai cũng mang theo một cảm giác kỳ
lạ. Trận chiến Charlie lại sống động như mới hôm qua, những người Việt
Nam nổ súng vào nhau như vẫn còn nghe tiếng đạn bay. Rừng núi âm u như
vẫn chực chờ những cái chết vô định. Chúng tôi cảm nhận được hết mọi thứ
và ngồi lại, kể với nhau khi ra đến bên ngoài.
Ký ức thường rồi dần sẽ phai mờ, sự khốc
liệt của chiến tranh, máu và nước mắt rồi cũng khô cạn. Nhưng anh hùng
tử, khí hùng bất tử, cái chết vì chính nghĩa bảo vệ miền đất tự do của
những thanh niên miền Nam Việt Nam quyết bảo
vệ vùng đất của mình vẫn được nhớ đến, vẫn phảng phất trong hương gió
núi vùng Dakto, trong lời hát, bất ngờ hiện ra vào chiều sẩm tối ở đồi
Charlie, khiến chúng tôi gai người – sự linh thiêng của núi sông là đây,
của cha anh là đây, của nghịch cảnh tương
tàn vì tham vọng cơ đồ là đây.
Đi trong đoàn có hai sư thầy trẻ, vừa là
bạn tín ngưỡng, vừa là người đồng chí hướng. Nhang được đốt lên, hoa
được đặt xuống mặt đất bằng. Chai rượu trắng được rót xuống cùng những
lời cầu nguyện khác nhau. Anh V., đứng thẳng
dáng gầy, tay chắp nhang ngang mày im lặng. Sự tôn nghiêm của anh làm
hơi rượu như nồng hơn, sẻ chia như những vần thơ của Tô Thùy Yên:
Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chén rượu hồng đây xin rót xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này
Giờ thì không có ai là kẻ thù, cần diệt
trừ và không có nơi chốn nào, cần phải bị giải phóng. Chỉ có những con
người nằm lại với nhau, xương thịt nằm lại trên cùng một mảnh đất, cùng
ngửa mặt lên bầu trời đêm của ngọn đồi Charlie
để thấy thương đau là tên gọi chung của tất cả. Tất cả thịt xương Việt
Nam đã đến, đã hư không, chỉ còn linh hồn ở lại.
Chắc chắn rồi chúng tôi sẽ trở lại, rót
rượu cho mọi người, không phân biệt là ai. Vì như có một lời hứa âm vang
trong tim với những con người đã đến, thân xác ra đi nhưng linh hồn mãi
mãi ở lại Charlie. Những người anh em Việt
Nam đã chết trên đất nước, đem lại những điều quý giá. Có những người
dạy cho thế hệ sau biết chính nghĩa quốc gia là gì, và có những người
lại dạy cho chúng tôi biết cuộc tương tàn ấy đau đớn thế nào trong tham
vọng chủ nghĩa.
(Tháng 12-2020)
|