".....Từ
rất lâu, ở Sài Gòn xuất hiện các loại bánh mì theo kiểu Pháp, miền Bắc lại
gọi là bánh tây với hàm ý du nhập từ Pháp.
Có nhiều loại bánh
đặc biệt như bánh mì ba-ghét (loại bánh mì nhỏ, dài
–baguette),
bánh pa-tê-sô (một loại bánh nhân
thịt, ăn lúc nóng vừa dòn vừa ngon –
pathé chaud),bánh
croát-xăng (hay còn gọi là bánh sừng bò –
croissant).
Bánh “pathé
chaud”
Người
Sài Gòn thường ăn sáng với bánh mì kèm theo nhiều kiểu chế biến trứng gà
như ốp-la (trứng chỉ chiên một mặt và để nguyên lòng đỏ – oeuf
sur le plat), trứng ốp-lết (trứng tráng – omelette) hoặc
trứng la-cóc (trứng chụng nước sôi, khi ăn có người lại thích thêm
một chút muối tiêu – oeuf à la coque).
Món
không thể thiếu trong bữa ăn sáng là cà phê (café). Cà phê
phải được lọc từ cái phin (filtre à café) mới đúng điệu.
Người miền Bắc ít uống cà phê nên sau năm 1975 vào Sài Gòn nhiều người đã
mô tả cái phin cà phê một cách rất “gợi hình”: “cái nồi ngồi trên cái
cốc”.
Ngôn
ngữ về trang phục cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ tiếng Pháp. Bình thường
hàng ngày người ta mặc áo sơ-mi (chemise), cổ tay có cài
khuy măng-sét (manchette). Khi đi tiệc tùng hoặc hội họp thì
mặc áo vét (vest) hay bộ vét-tông (veston) kèm
theo chiếc cà-vạt (cravate) trên cổ áo sơ mi. Trời hơi
lạnh có thể mặc bên trong áo vét một chiếc gi-lê
(gilet) và hai tay mang găng (gants) cho
ấm.
Ngay
cả quần áo lót bên trong cũng mượn từ tiếng Pháp. Phụ nữ trên thì mang
xú-chiêng (nịt ngực –soutien-gorge) dưới thì có
xì-líp (slip). Nam giới thì mặc áo may-ô
(maillot) bên trong áo sơ-mi. Mặc quần thì phải có xanh-tuya
(dây nịt – ceinture) và khi trời nóng thì mặc quần sóc (quần
ngắn, tiếng Pháp là short được mượn từ tiếng Anh
shorts).
Trang
phục có thể được may từ các loại cô-tông (vải bông – coton)
hoặc bằng len (làm từ lông cừu –laine). Trên đầu có mũ
phớt (feutre, một loại mũ dạ), mũ be-rê (béret,
một loại mũ nồi)… dưới chân là đôi dép săng-đan (sandales),
sau này người Sài Gòn lại chế thêm dép sa-bô (sabot nguyên
thủy tiếng Pháp là guốc).
Mũ phớt dân chơi Tràm Chim
Ði
lính cho Tây thì được phát đôi giày săng-đá (giày của lính –
soldat). Loại lính nhảy dù, biệt kích,gọi là còm-măng-đô
(commando). Một đoàn xe quân sự có hộ tống được gọi là
công-voa (convoi, trông cứ như con voi trong tiếng Việt!).
Thuật ngữ quân sự chỉ những công sự xây đắp thành khối vững chắc, dùng để
phòng ngự, cố thủ một nơi nào đó được gọi là lô-cốt có xuất xứ từ
blockhaus. Ngày nay, chữ lô cốt còn được XHCNVN dùng chỉ
những nơi đào đường, thường được rào chắn, vây kín mặt đường, cản trở lưu
thông.
Xưa
kia cảnh sát được gọi qua nhiều tên: mã-tà (xuất xứ từ tiếng Pháp
matraque, có nghĩa là dùi cui), sen đầm
(gendarme), phú-lít (police), ông cò
(commissaire)… Lực lượng quan thuế (ngày nay VN gọi là hải
quan) được gọi là đoan (douane), lính đoan còn có
nhiệm vụ đi bắt rượu lậu là một mặt hàng quốc cấm thời Pháp
thuộc.
Nông
phẩm thì có đậu cô-ve (còn gọi tắt là đậu ve – haricot
vert), đậu pơ-tí-poa (đậu Hòa Lan có hột tròn màu xanh –
petits-pois), bắp sú (bắp cải – chou), súp-lơ
(bông cải – chou-fleur), xà lách (salade),cải
xoong (còn gọi là xà lách xoong – cresson),
cà-rốt (carotte), ác-ti-sô
(artichaut)…
Tiếng
Tây cũng đi vào âm nhạc. Từ điệu valse, tango… đến đàn
piano (dương cầm), violon (vĩ cầm), kèn harmonica
(khẩu cầm)... Ở các đăng-xinh (khiêu vũ trường –
dancing) luôn có ọc-két (ban nhạc –orchestre) chơi
nhạc và xuất hiện một nghề mới gọi là ca-ve (gái nhẩy –
cavalière). Ngày nay người ta dùng từ ngữ ca-ve với ý chỉ
tất cả những cô gái làm tiền, khác hẳn với ý nghĩa nguyên thủy của
nó.
Người
phương Tây dùng nhiều sữa và các sản phẩm của sữa nên đã đưa vào ngôn ngữ
tiếng Việt những từ ngữ như bơ (beurre), pho-mát
(fromage), kem (crème)... Nổi tiếng ở Sài Gòn có hai
nhãn hiệu sữa Ông Thọ (Longevity) và Con Chim
(Nestlé) như đã nói ở phần trên.
Có
người cắc cớ thắc mắc, đàn ông mà lại là ông già thì làm sao có sữa? Xin
thưa, hình tượng “Ông Thọ chống gậy” trên hộp sữa chỉ muốn nói lên tuổi
thọ (longévité) của người dùng sữa. Trường hợp của Nestlé cũng vậy.
Con Chim thì làm gì có sữa? Thực ra thì logo của Nestlé là một tổ chim
(gồm chim mẹ và 2 chim con) nhưng người Việt mình cứ gọi là sữa Con Chim
cho tiện.
Logo của
Nestlé
Cũng
vì thế mới có nhiều câu chuyện khôi hài về sữa Con Chim. Chú Ba Tàu, chủ
tiệm “chạp phô”, giải thích vì sao sữa Con Chim lại bán với giá mắc hơn
những sữa khác: “Sữa con bò vì có nhiều vú nên rẻ, sữa mẹ chỉ có 2 vú
nên đắt nhưng Con Chim nhỏ chút xíu, vắt được 1 lon sữa là quý lắm thì
phải mắc tiền nhất chớ!”.
Các
ông lại giải thích một cách hóm hỉnh khi các bà thắc mắc Con Chim
làm gì có sữa: “Tại mấy bà không để ý đấy thôi, con chim khi hứng chí
cũng tiết ra một thứ sữa màu trắng đục, đó không phải là sữa thì là
gì?”.
Thế
mạnh của Nestlé là các sản phẩm sữa bò khác như Núi Trắng (Lait
Mont-Blanc) và sữa bộtGuigoz. Ngày xưa, những gia đình trung lưu
đều nuôi con bằng sữa bột Guigoz. Tôi vẫn còn nhớ cảm giác khi ăn
vụng một thìa Guigoz của em út: vừa bùi, vừa béo, những hạt sữa nhỏ
ly ty như tan ngay trong miệng.
Sữa
bột Guigoz được chứa trong một cái lon bằng nhôm, cao 15cm, có sọc
ngang, bên trong lại có sẵn thìa để giúp người pha dễ đo lường. Khi dùng
hết bột, các bà nội trợ không vứt lon như những loại sữa khác vì lon
Guigoz có nắp đậy rất kín nên được “tái sử dụng” trong việc đựng
đường, muối, tiêu, bột ngọt…
Lon
Guigoz
Những
người thiết kế lon Guigoz chắc hẳn chưa bao giờ nghĩ cái lon lại có
nhiều công dụng sau khi sữa bột ở bên trong đã dùng hết. Lon Guigoz
đã theo chân những tù nhân cải tạo như một vật “bất ly thân”. Những người
“tưởng đi học có 10 ngày” mang theo lon Guigoz để đựng các vật dụng
linh tinh như bàn chải, kem đánh răng, vài loại thuốc cảm cúm, nhức đầu để
phòng khi cần đến.
Lon
Guigoz thường được những người tù gọi tắt là “lon gô”. Học
tập càng lâu lon gô càng tỏ ra “đa năng, đa hiệu” cứ như trường Võ
Bị Vợ Bỏ. Muốn múc nước từ giếng lên thì dùng gô làm gàu, buổi sáng
thức dậy dùng gô làm ly đựng nước súc miệng, nhưng gô còn tỏ
ra đặc biệt hữu ích khi dùng như một cái nồi để nấu nước, thổi cơm, luộc
măng (lấy ở trên rừng), luộc rau, luộc khoai mỳ (“chôm chỉa” khi đi “tăng
gia sản xuất”)… nghĩa là làm được tất cả mọi công việc bếp
núc.
Chúng
tôi ở trong một căn cứ cũ của Sư đoàn 25 tại Trảng Lớn (Tây Ninh) nên có
cái may là còn rất nhiều vỏ đạn 105 ly. Người cải tạo săn nhặt những vỏ
đạn về và chế thành một cái lò “dã chiến” và lon gô để vào trong lò
vừa khít, tưởng như 2 nhà thiết kế vỏ đạn và lon gô đã ăn ý với
nhau “từng centimét” ngay từ khâu thiết kế ban đầu! Ai chưa có lon
gô thì nhắn gia đình tìm để đựng đồ ăn mỗi khi được vào trại “thăm
nuôi”.
Sau
30/4/75 lon gô trở nên hữu dụng vì công nhân, sinh viên, học sinh
dùng lon gô để đựng cơm và thức ăn cho bữa trưa. Người Sài Gòn
thường đeo một cái túi đựng lon gô khi đi làm, một hình ảnh không
thể nào quên của “thời điêu linh” sau 1975. Tình cờ tôi bắt gặp trang web
của Pháp quảng cáo bán lon sữa Guigoz cho những người sưu tầm, giá lên tới
15 euro cho một lon Guigoz xưa, dĩ nhiên là chỉ có lon không, không có
sữa!
Sữa bột
Guigoz
Người
Pháp khi đến Việt Nam mang theo cả chiếc ô-tô (xe hơi –
auto, automobile). Xe xưa thì khởi động bằng cách quay
ma-ni-ven (manivelle) đặt ở đầu xe, sau này tân tiến hơn có
bộ phận đề-ma-rơ (khởi động – démarreur). Sau khi đề
(demarrer), xe sẽ nổ máy, sốp-phơ (người lái xe -
chauffeur) sẽ cầm lấy vô-lăng (bánh lái – volant) để
điều khiển xe… Về cơ khí thì người Sài Gòn dùng các từ ngữ như
cờ-lê (chìa vặn – clé), mỏ-lết (molete),
đinh vít (vis), tuốc-nơ-vít (cái vặn vít –
tournevis), công-tơ (thiết bị đồng hồ – compteur),
công tắc (cầu dao – contact)…
Bây
giờ nói qua chuyện xe đạp cũng có nhiều điều lý thú. Chiếc xe đạp trong
ngôn ngữ Việt mượn rất nhiều từ tiếng Pháp. Trước hết, phía trước có
ghi-đông (thanh tay lái – guidon), dưới chân có
pê-đan (bàn đạp – pedale), săm (ruột bánh xe –
chambre à air) và phía sau là bọc-ba-ga (để chở hàng hóa
–porte-bagages).
Chi
tiết các bộ phận trong xe đạp cũng… Tây rặc. Có dây sên (dây xích –
chaine), có líp (bộ phận của xe đạp gồm hai vành tròn kim
loại lồng vào nhau, chỉ quay tự do được theo một chiều – roue
libre), rồi phanh (thắng – frein) ở cả bánh trước lẫn
bánh sau. Thêm vào đó còn có các bộ phận bảo vệ như gạc-đờ-bu
(thanh chắn bùn – garde-boue) và gạc-đờ-sên (thanh che dây
xích – garde-chaine).
Mỗi
chiếc xe đạp xưa còn trang bị một ống bơm (pompe) để phòng khi lốp
xe xuống hơi. Bên cạnh đó người ta gắn một chiếc đy-na-mô
(dynamo – bộ phận phát điện làm sáng đèn để đi vào ban đêm). Tôi
còn nhớ khi tháo tung một cái dynamo cũ thấy có một cục nam châm
gắn vào một trục để khi trục quay sẽ sinh ra điện.
Hồi
xửa hồi xưa, đi xe đạp không đèn vào ban đêm rất dễ bị phú-lít thổi
phạt nên nếu xe không đèn, người lái phải cầm bó nhang thay đèn! Sài Gòn
xưa có các nhãn hiệu xe đạp mổi tiếng như Peugoet, Mercier, Marila,
Follis, Sterling … Ðó là những chiếc xe đã tạo nên nền “văn minh xe
đạp” của những thế hệ trước và một nền “văn hóa xe đạp” còn lưu lại trong
ngôn ngữ tiếng Việt của người Sài Gòn xưa...."
Xe
đạp Mercier ngày xưa
có
gắn ống bơm, dynamo và cả lon Guigoz
Description du produitAncienne boite de
lait Guigoz collector Hauteur 15 cm En parfait état.
|
|
|
|
|
|
|
|
| Mis en ligne par mary le 29
janvier |
Sưu Tầm