Chào các bạn,
Dưới đây là một bài phóng sự điều tra 2 kỳ, do bạn Hoàng Thiên Nga ký giả báo Tiền Phong viết. Vấn đề cưỡng chế thu hồi đất rừng không thỏa đáng đã gây nhiều đàn áp, thiệt hại, bất công, phàn nàn, và chống đối trong cộng đồng các dân tộc anh em, và mỗi khi có chống đối lớn, câu giải thích ta thường nghe nhất trên báo chí, lập lại lời quan chức địa phương, là “lâm tặc tấn công.”
Mong là tất cả chúng ta quan tâm đến các vấn đề này, nhất là khi cưỡng chế liên quan đến các dân tộc thiểu số, vì thiểu số thì dễ bi ức hiếp nếu không được bảo vệ công minh.
Cám ơn anh Nguyễn Quý Ninh, bác sĩ Bệnh Viện Đa Khoa Đắk Lắk, đã giới thiệu link về bài phóng sự này.
Chúc các bạn một ngày vui.
Trần Đình Hoành
__________
Thứ Hai, 02/11/2009, 17:02
Hậu cưỡng chế thu hồi đất rừng ở Bình Phước: Phục hồi quyền lợi chính đáng cho người dân
Kỳ I: Ném chuột, vỡ bình
TP – Ngày 27/10/2009, UBND tỉnh Bình Phước công bố kết luận sau buổi đối thoại giữa Chủ tịch UBND tỉnh cùng 120 người dân tại huyện Phước Long.
Buổi gặp với sự có mặt của đại diện Thanh tra Chính phủ, nhen hy vọng cho nhiều hộ dân nghèo trắng tay sau các cuộc cưỡng chế rầm rộ do tỉnh tổ chức, nhằm lập lại trật tự kỷ cương trong công tác quản lý bảo vệ rừng.
| Các già làng thôn Đắk U, xã Phú Nghĩa, huyện Phước Long tại rẫy điều còn lại – Ảnh: H.T.N |
Quy hoạch kém, ém dân lành với lâm tặc
Không lâu sau ngày đất nước thống nhất, hàng trăm lâm trường được thành lập trên khắp các tỉnh thành phía Nam với chức năng quản lý, bảo vệ và kinh doanh rừng.
Tuy nhiên, cơ chế quản lý không hiệu quả khiến phần lớn diện tích thuộc các lâm trường, sau đó chuyển thành các Ban Quản lý Rừng phòng hộ (BQLRPH) bị tàn phá bằng đủ mọi cách.
Từ năm 2006 đến nay, tỉnh Bình Phước phải tổ chức nhiều đợt cưỡng chế rầm rộ để thu hồi đất lâm nghiệp bị xâm lấn trái phép. Sau đó, phát sinh nhiều cuộc khiếu nại dai dẳng của nhiều thành phần mà trong số đó, ngoài những kẻ cơ hội “vừa phá vừa la”, nhiều trường hợp có dấu hiệu bị cưỡng chế oan sai.
Về vấn đề này, báo Tiền Phong đã đăng các bài “Tranh đất trồng rừng khi mất hết rừng” (ra ngày 27/10-2/11/2008) và “Thành tội phạm do mất đất trồng rừng” (ra ngày 25/11/2008) với quan điểm cần bảo vệ lợi ích chính đáng cho đồng bào bản địa.
Chúng tôi đã có nhiều chuyến đi thực tế, điều tra tại hàng chục buôn làng có đơn thư gửi đến Ban Đại diện báo Tiền Phong khu vực Tây Nguyên, đồng thời gặp gỡ, trao đổi với lãnh đạo các huyện Phước Long, Bù Đăng và tỉnh Bình Phước.
Công văn số 421 ngày 13/7/2009 do ông Phạm Công, Chánh văn phòng UBND tỉnh Bình Phước ký gửi Tổng Biên tập báo Tiền Phong trả lời chất vấn của phóng viên, cho biết phần lớn đất đai tịch thu được đã chia cho các dự án kinh tế.
Cụ thể, trong 13.820 ha đất mà tỉnh thu hồi, chỉ có 1.950 ha cho chủ rừng trồng lại rừng; còn 9.532 ha giao cho các tổ chức kinh tế; 1.046 ha để bố trí đất ở và đất sản xuất cho đồng bào theo chương trình 134; 1.291 ha để cấp cho những đối tượng đã mất hết đất sản xuất, đời sống khó khăn sau khi bị cưỡng chế (!).
Tìm trong nguồn tài liệu lưu trữ tại những cơ quan liên quan như Thanh
tra Nhà nước, Chi cục định canh định cư và Kinh tế mới, hỏi các cựu
giám đốc lâm trường để tìm hiểu từ trước đến nay, khi quy hoạch lâm trường, nhà chức trách có chừa ra diện tích sở hữu truyền đời của các làng buôn,
chúng tôi được biết: Những năm sau ngày giải phóng, các lâm trường hình
thành đơn giản bằng chỉ thị, khoanh vẽ sơ sài chứ không hề định vị đo
đếm chặt chẽ theo nguyên tắc quy hoạch, nên chu vi lâm trường bao trùm
cả buôn sóc, và đôi bên cứ thế chung sống hòa bình suốt nhiều năm.
Chính vì thế, đồng bào các buôn sóc, trong đó có cả địa danh nổi tiếng như sóc Bom Bo từng đóng góp hy sinh cho cách mạng trong kháng chiến, suốt nhiều năm vẫn hồn nhiên nói theo cán bộ là rẫy mình nằm ở tiểu khu A, tiểu khu B, không ngờ có lúc cái gọi là tiểu khu ấy khiến họ bị xếp chung vào đội hình của những kẻ mua bán lấn chiếm trái phép đất rừng để trục lợi, như công văn 421 khẳng định: Tất cả các hộ dân bị cưỡng chế thu hồi mà báo đề cập đều sử dụng đất lâm nghiệp trái phép.
Những vô lý trong công tác quy hoạch không chỉ xảy ra từ 30 năm trước, mà đến nay vẫn tiếp diễn. Ví dụ gần đây một số khu kinh tế được thành lập, diện tích trùm luôn lên các BQLRPH.
Như vậy, có những khoảng đất bị chồng chất quyền sở hữu của ba chủ: đồng bào bản địa, BQLRPH, Khu KTQP. Thử hỏi, tránh sao khỏi phức tạp mỗi khi nảy sinh tranh chấp?
Mất hết rẫy rồi, khổ lắm!
Ông Điểu Nhâm sinh năm 1957, 14 tuổi đã tham gia cách mạng, phục vụ nhiều năm trong ngành công an. Từ năm 1986, Điểu Nhâm nghỉ chế độ, tự túc làm rẫy trồng điều cùng đồng bào buôn Bu Xốp, xã Đồng Nai, huyện Bù Đăng.
| Phóng viên làm việc với đồng bào buôn Busar, xã Đắk Nhau, huyện Bù Đăng – Ảnh: V.T |
Những đợt cưỡng chế rầm rộ do tỉnh, huyện tổ chức đã phá luôn nhiều rẫy điều nuôi sống buôn Bu Xốp. Đồng bào cử Điểu Nhâm làm đại diện thay mặt họ đi tìm ông Nhà nước hỏi cho ra lẽ!
Điểu Nhâm ba lần khăn gói ra Hà Nội, lần nào cũng được cán bộ văn phòng Chính phủ cấp văn bản hướng dẫn về hỏi huyện và tỉnh. Chạy xe máy 30km ra huyện Bù Đăng, 80km ra tỉnh Bình Phước gần hai chục lần, lần nào cũng nghe cán bộ huyện bảo huyện không có thẩm quyền trả lại đất, cán bộ tỉnh bảo việc này thuộc trách nhiệm của huyện.
Nhiều lần nhận đơn thư kêu cứu từ buôn Bu Xốp, phóng viên báo Tiền Phong tới tận nơi điều tra. Tại nhà Điểu Nhâm, rất đông đồng bào chờ sẵn, thiết tha mời nhà báo ra hiện trường xem những gốc điều bị ủi chỏng chơ to chật vòng tay người lớn để chứng minh không phải họ mới phá rừng trồng điều mấy năm gần đây.
Riêng một cụ già tóc bạc phơ ngồi ngoài thềm lặng im buồn bã. Đó là già làng Broi tuổi ngoài bảy mươi, từng được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng Nhì và có một em trai hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ.
Sau khi đoàn cưỡng chế tràn qua, cán bộ xã bảo ông phải làm gương. Ông đành rút tên khỏi danh sách khiếu nại. Ông hỏi: Nhà báo xem việc họ buộc tôi phải đổi cả hai hécta điều sắp thu hoạch lấy ba sào đất và năm triệu đồng là đúng hay sai?
Nhiều hộ dân ở thôn 4 xã Đồng Nai, huyện Bù Đăng cũng rơi vào thảm cảnh tương tự. Đất đai, nhà cửa của đồng bào thuộc sơ đồ tiểu khu 202 thuộc BQLRPH Đồng Nai, tiểu khu 144 thuộc BQLRPH Bom Bo, tiểu khu 269 thuộc BQLRPH Thống Nhất và Nông – Lâm trường Đồng Nai, đều bị giải tỏa trắng.
Ông Điểu Ơi ở thôn Đăk U xã Phú Nghĩa, huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước có 6 ha đất trồng điều từ năm 1985 – 1987 trên những khoảnh rẫy luân canh, tạo nguồn sống cho 7 khẩu trong gia đình.
Tháng 5/2006, đoàn cưỡng chế gần 400 người ồ ạt kéo đến chặt sạch rẫy điều và dỡ bỏ hết nhà cửa của gia đình ông. Từ đó tới nay Điểu Ơi đi làm thuê, ngày nào được thuê mới kiếm được 30 – 60 nghìn đồng tiền công nên cả nhà quanh năm túng bấn.
Điểu Chắc cũng có 5 ha trồng điều từ năm 1995 đến năm 1999, bị thu hết 2,3 ha. Diện tích điều còn lại năng suất kém, mùa này hái phơi xong chỉ được 2 tạ hạt, chẳng biết xoay xở cách nào để gia đình đủ sống tới mùa sau.
Hàng trăm hecta nương rẫy của các hộ đồng bào dân tộc Stiêng ở thôn Bù Gia Phúc, thôn Đăk U xã Phú Nghĩa, và thôn Bù Ka, thôn 4 xã Đăk Ơ huyện Phước Long, cùng chung số phận, khi chính quyền địa phương cho rằng nguồn gốc những nương rẫy này đều là đất thuộc diện bị cưỡng chế.
“Trước đây nhờ trồng điều mà bà con có cái ăn cái mặc. Giờ thì nhà không có mà ở, cái ăn cũng chẳng còn!”, già làng Điểu Giấp thôn 4 buồn bã than.
Mất nguồn sống, đồng bào quay lại tái chiếm phần đất vừa bị thu nên tiếp tục bị tái cưỡng chế, nhà cửa bị đập phá, dỡ bỏ mấy lần, đành chấp nhận trở thành kẻ làm thuê ngay trên những khoảnh rẫy cũ.
Chủ mới thành phần đa dạng, là cá nhân hoặc tập thể, là những đơn vị chức năng chính vốn không phải là quản lý bảo vệ rừng, như Phòng Dân tộc Tôn giáo, Phòng Kinh tế, Trung tâm khuyến nông, Hạt Kiểm lâm, Huyện đội, Công an…
Chủ mới thuê dân nghèo trồng điều, trồng cao su trên những lô cao su và điều vừa bị ủi trắng. Có kẻ chạy sao đó mà được chia đất, rồi lòng vòng bán đất cho những khổ chủ vừa bị cưỡng chế thu hồi!
Điều tra của Hoàng Thiên Nga
(Xin xem tiếp Kỳ II)
.
Thứ Ba, 03/11/2009, 08:50
Hậu cưỡng chế thu hồi đất rừng ở Bình Phước: Phục hồi quyền lợi chính đáng cho người dân
Kỳ II: Sai phạm chưa rõ, khó nói khắc phục
TP – Do quy hoạch trước đây có chồng chéo, khi cưỡng chế lại thiếu điều tra thực tế, nên việc thu hồi đất rừng ở Bình Phước đã khiến nhiều bà con bị mất đất sản xuất. Để sửa sai, trước hết cần làm rõ nguồn gốc, diện tích, hoa lợi… của những thửa đất bị thu hồi oan.
| Chỗ bị giải tỏa này là nghĩa địa cũ của làng Busar |
Làm sai thì nhanh, sửa sai lại chậm
Chỉ thị số 33 ngày 12/5/2005 của Tỉnh ủy Bình Phước chỉ đạo: Kiên quyết thu hồi đất rừng và đất lâm nghiệp bị lấn chiếm; Nhổ bỏ đối với cây trồng trên đất lâm phần bị lấn chiếm từ đầu năm 2004 đến nay; Đối với những diện tích đã trồng cây từ trước 2004 nằm trong quy hoạch các dự án đã được phê duyệt thì tiến hành thu hồi có đền bù thành quả lao động trên đất… Tuy nhiên khi cưỡng chế, nhiều diện tích cây trồng từ lâu trước năm 2004, hoặc không thuộc quy hoạch các dự án, cũng bị phá sạch.
Trong biên bản kiểm tra xác minh nội dung khiếu nại của 14 hộ dân tại thôn Bù Ka, xã Đăk Ơ, huyện Phước Long, phía đại diện chính quyền xác nhận: “Toàn bộ diện tích đất đoàn cưỡng chế thu hồi ngày 13/5/2006 đã tiến hành trồng cao su, nên đến nay tổ kiểm tra không xác định được cây trồng và thành quả trên đất bị thu hồi, không xác định được diện tích đất của từng hộ (!).
Phải chăng chưa điều tra khảo sát, trao đổi thương lượng với người dân, đoàn cưỡng chế vẫn chặt phá tài sản của họ? Biên bản cũng ghi rõ trên đất rẫy cũ đã bị thu hồi, vẫn còn sót lại những gốc điều bị ủi bật rễ và một số cây điều còn sống, đường kính gốc từ 15-25 cm. “Có cây điều nào trồng năm 2004 mà lớn nhanh như thế không? Vườn điều này tôi trồng lâu rồi sao lại chặt đi?”- Điểu Hai bức xúc hỏi, không ai trả lời!
Điểu Nhâm ở thôn 4, xã Đồng Nai, huyện Bù Đăng có 5 ha đất bị thu hồi nhưng chỉ được ghi vào danh sách thu hồi là 3,5ha, với đề nghị hỗ trợ cây trồng 54 triệu đồng và 1,5 ha đất tái định canh. Ông không chịu nhận khoản hỗ trợ ít ỏi này: “Đồng bào không cần tiền, chỉ cần đất sản xuất. Chừng này đất, cả gia đình mười mấy người như nhà tôi làm sao đủ sống?”.
Trong một công văn trả lời kiến nghị của dân, Chủ tịch UBND huyện Phước Long Trương Duy Điểu khẳng định: Toàn bộ diện tích đất thu hồi nhà nước sẽ giao cho các đơn vị, doanh nghiệp trồng rừng, và đặc biệt ưu tiên giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất trên địa bàn huyện, tuyệt đối không giao diện tích thu hồi cho bất cứ một cán bộ, cá nhân nào sử dụng.
Thế nhưng, chỉ một thời gian sau đó, tình trạng mua bán đất trái phép đã diễn ra nhộn nhịp ngay trên những vạt rẫy cũ của đồng bào bị cưỡng chế. Tiêu biểu là vụ bán 3 ha rẫy cao su mới trồng tại tiểu khu 30 thuộc lâm trường Đăk Mai, với giá 330 triệu đồng, có chữ ký và con dấu Giám đốc DNTN Thanh Hải.
Báo cáo số 60 ngày 27/9/2007 của đoàn Kiểm tra 1679 về việc quản lý, sử dụng đất sau thu hồi tại huyện Phước Long còn cho thấy nhiều vùng đất thu hồi đã bị thực hiện sai vị trí, vượt diện tích, giao đất sai đối tượng, chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt; thậm chí có 5 cán bộ công an được cấp tới 20,3 ha đất.
Suốt 4 năm qua tỉnh Bình Phước đã tổ chức nhiều đợt cưỡng chế, tái cưỡng chế theo kịch bản tương tự như sau: Lực lượng 394 người chia làm 4 tổ: tổ tuyên truyền vận động, tổ cưỡng chế, tổ cấp cứu, tổ chặt hạ, do Chủ tịch huyện làm trưởng đoàn, đi trên 25 ô tô, 50 mô tô, 15 xe ủi, 7 xe cải tiến, 1 xe cứu thương, sử dụng 15 cưa máy và nhiều loại công cụ hỗ trợ khác như gậy cao su, gậy tầm vông, bộ đàm, dây dù… toàn bộ kinh phí phục vụ công tác cưỡng chế do chủ đầu tư chi trả. Trước sức mạnh không ngăn nổi của lực lượng cưỡng chế hùng hậu, chủ rẫy chỉ bất lực đứng nhìn mà thôi.
Đợt chặt cây, ủi rẫy, dỡ nhà đầu tiên thực hiện từ tháng 5/2006, mãi tới tháng 11/2008 UBND huyện Phước Long mới lập kế hoạch “Đầu tư dự án định canh định cư tập trung cho đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2007-2010” cho 447 hộ tại 2 xã Đăk Ơ và Bù Gia Mập, với tổng vốn gần 17 tỷ đồng. Chưa có tiền ngân sách, huyện tạm ứng vốn từ các nhà đầu tư.
Việc cày ủi, san lấp mặt bằng tại tiểu khu 42 thuộc BQLRPH Đăk cách nơi ở cũ của đồng bào hàng chục cây số đã xong, nhưng danh sách cấp đất vừa lập đã phát sinh khiếu nại kiện cáo rằng không đúng người, không đúng đối tượng, nên đến nay đất dự án vẫn chưa được chia!
Bao giờ dân hết khổ?
Từ năm 2007, Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng đã ký Quyết định số 57 yêu cầu thu bớt đất của các nông lâm trường giao lại cho các địa phương. Nếu chủ trương hợp lòng dân này được kịp thời triển khai nghiêm túc tại Bình Phước thay cho những đợt tái cưỡng chế đầy sơ hở, có lẽ đã khắc phục được phần nào sai phạm đáng tiếc, xáo trộn nghiêm trọng cuộc sống người dân.
Tại UBND huyện Bù Đăng, Chủ tịch huyện Nguyễn Anh Hoàng tiếp chúng tôi, khẳng định: Hộ nào bị thu hồi mà không còn đất sản xuất sẽ được các xã kiểm tra xác minh để giải quyết cấp đất theo chính sách 134. Huyện sẽ lưu ý thẩm tra kỹ những địa chỉ đáng chú ý mà các nhà báo nêu ra, để tránh xử lý oan sai.
Chương trình 134 đang triển khai còn gặp khó khăn do các chủ đất cũ gây áp lực, thậm chí ngăn cản không cho chủ đất mới sản xuất. Nếu thực hiện xong chương trình 134, sẽ không còn hộ dân nào thiếu đất (!)…
Sau buổi đối thoại có sự chứng kiến của ông Nguyễn Đức Kỳ, cán bộ Thanh tra Chính phủ tại huyện Phước Long, ông Trương Tấn Thiệu, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước kết luận:
1/Lập Tổ công tác đặc biệt (TCTĐB) dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch UBND tỉnh để giải quyết các khiếu nại tố cáo của công dân 2 xã Đăk Ơ, Phú Nghĩa.
2/Giao cho UBND huyện Phước Long, mà sau ngày 1/11/2009 chia tách thành huyện Bù Gia Mập, khai hoang diện tích đất rừng nghèo kiệt để bố trí đất sản xuất cho người dân thiếu đất sản xuất vì bị thu hồi.
3/Đất xâm canh, lấn chiếm trước năm 2004 nếu thu hồi giao sai đối tượng hoặc chưa sử dụng thì xem xét để giao khoán lại, được hỗ trợ bồi thường cây trồng theo quy định bằng cách người dân tự chứng minh và đối chất với BQLR có sự chứng kiến của TCTĐB.
4/Giao cho TCTĐB làm rõ những cán bộ có hành vi lợi dụng thu hồi đất để chia chác, sử dụng sai; Yêu cầu người dân tố giác, giúp đỡ TCTĐB làm tốt nhiệm vụ được giao v.v…
Như vậy, tới nay đã có thể thấy rõ những cái được và chưa được của các đợt cưỡng chế diễn ra tại một số huyện của tỉnh Bình Phước. Cái được lớn nhất là làm chùn tay những kẻ xâm lấn và mua bán trái phép đất rừng, phần nào lập lại trật tự trong việc quản lý bảo vệ rừng.
Nhưng nhiều cái chưa được, là việc tổ chức cưỡng chế thiếu chuẩn bị điều tra chu đáo, chưa tính hết hậu quả nghiêm trọng của việc đẩy hàng nghìn hộ dân vào hoàn cảnh đói khổ do bị hủy hoại tài sản, không giám sát chặt chẽ việc sử dụng đất sau thu hồi, trả lại cho rừng chỉ một phần nhỏ diện tích nhưng sau đó lại chấp nhận mất thêm nhiều diện tích rừng khác, tốn kém thêm những khoản ngân sách lớn để giải quyết hậu quả làm sai.
Tất nhiên, cách xử lý tiếp theo phần nào mang tính “chữa cháy”, khó khắc phục hết những sai sót đã gây ra. Ví dụ: Ngân sách sao đền bù cho đủ công sức, vốn liếng và sự bình yên trong cuộc sống những hộ dân đã bị cưỡng chế oan sai?
Trong việc thu lại những diện tích đất đã cấp sai đối tượng, ví dụ trường hợp cấp 20,3 ha đất rẫy thu của đồng bào cho 5 cán bộ ngành công an, ai chịu trách nhiệm bồi hoàn khoản đầu tư thuê người trồng cao su cho các chủ mới?
Điều cần phải cảnh báo: Khi triển khai, các dự án tái định cư sẽ cấp nhà ở và đất sản xuất mỗi hộ bình quân 1 ha. Chưa kể khoảng cách quá xa từ nơi ở đến chỗ đất được chia sẽ gây rất nhiều khó khăn cho đồng bào nghèo nhận đất, mà điều bất cập lớn hơn, là với lối canh tác truyền thống lạc hậu và các loại cây trồng năng suất quá thấp của đồng bào địa phương, nếu không có sáng kiến hay giải pháp mang tính đột phá tích cực nào từ công tác khuyến nông, thu nhập của đồng bào bản địa từ 1 ha đất chắc chắn không đủ nuôi sống mỗi gia đình, và hậu quả luẩn quẩn của sự nghèo đói tất yếu tiếp tục dẫn đến phạm pháp, phá rừng.
Hoàng Thiên Nga