Google Groups no longer supports new Usenet posts or subscriptions. Historical content remains viewable.
Dismiss

Trần Gia Phụng : Huyền Thoại Hồ Chí Minh (3)

29 views
Skip to first unread message

rang nguyen

unread,
May 25, 2013, 12:20:46 PM5/25/13
to
HNS

Chương 7

Huyền ThoạI Lăng Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh chết ngày 2-9-1969. Ngày 2-9 là quốc khánh của Việt Nam
Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) nên Bộ chính trị đảng LĐ sợ xui xẻo, đã cho
đổi ngày chết của HCM là 3-9-1969. Di chúc của HCM bị Lê Duẩn, bí thư
thứ nhất đảng LĐ, ra lệnh “cắt bỏ, sửa chửa vài chỗ” rồi mới cho công
bố, đề ngày 10-5-1969.(1)
Bản di chúc của HCM do Bộ chính trị đảng LĐ sửa đổi và công bố năm
1969, hoàn toàn không đề cập đến việc chôn cất HCM. Trong bản di chúc
đầu tiên do HCM đánh máy và ký tên ngày 15-5-1965, có chữ ký “chứng
kiến”[nv] của Lê Duẩn, bí thư thứ nhất ban Ban chấp hành trung ương
đảng LĐ, HCM viết:
“Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, nói chữ là “hỏa táng”. Tôi mong
rằng cách “hỏa táng” dần dần sẽ được phổ biến…Tro xương thì tìm một
quả đồi mà chôn. Gần Tam Đảo và Ba Vì như hình có nhiều đồi tốt. Trên
mộ, nên xây 1 cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những
người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi…” (66)
Hồ Chí Minh đã sửa đổi đôi chút về việc chôn tro cốt trong bản di chúc
viết năm 1968, theo đó “…Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là
“hỏa táng“… Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. Một hộp
cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam. Đồng bào
mỗi miền nên chọn 1 quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả, không nên có
bia đá tượng đồng, mà nên xây một ngôi nhà giản đơn, rộng rãi, chắc
chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi.”(1)
Giữa hai thời điểm HCM viết di chúc (1965-1968), vào giữa tháng
8-1967, Viện lăng Lenin được thông báo cho biết tình hình sức khỏe HCM
càng ngày càng suy yếu, và nhận được chỉ thị đặc biệt từ Bộ chính trị
Liên Xô ra lệnh chuẩn bị ướp xác HCM.
Ngày 14-9-1967, một phái bộ đặc biệt gồm ba bác sĩ Việt Nam đến
Moscow. Đó là các ông Nguyễn Gia Quyền, Chủ nhiệm Khoa Giải phẩu Quân
y viện 108; Lê Ngọc Mẫn, Chủ nhiệm Khoa Nội tiết Bệnh viện Bạch Mai;
Lê Điều, Chủ nhiệm Khoa Ngoại bệnh viện Việt Xô. Các bác sĩ nầy ở lại
Moscow 7 tháng để học tập cách ướp và bảo vệ xác trong giai đoạn đầu
từ 15 đến 20 ngày.
Giai đoạn kế tiếp là phần việc sẽ do các chuyên gia Liên Xô đảm trách.
Tổ ướp xác Việt Nam chính thức được thành lập vào tháng 6-1968 do bác
sĩ Nguyễn Gia Quyền đứng đầu. (2)
Như thế, việc ướp xác HCM đã được Bộ chính trị đảng LĐVN đặt ra ngay
khi HCM còn sống vào năm 1967. Khi đó HCM còn sáng suốt. Xin đừng quên
rằng HCM đã ra lệnh tổng tấn công Tết Mậu Thân (1968) bằng một bài thơ
của ông ta qua làn sóng đài phát thanh Hà Nội.
Chắc chắn HCM phải biết quyết định ướp xác ông của Bộ chính trị đảng
LĐ, nhưng ông không tỏ một dấu hiệu nào ngăn cản. Ông làm thinh có
nghĩa là ông đồng lõa với quyết định với Bộ chính trị.
Hồ Chí Minh hành xử rất khôn khéo trong hoàn cảnh của ông, vì không lẽ
ông tự nói ra rằng hãy ướp xác ông sau khi ông chết. Ông để cho các
thuộc hạ cứ tiến hành quyết định của họ, nhưng rất hạp với ý thích
sùng bái cá nhân của ông.
Thế mà trong di chúc năm 1968, HCM lại viết rằng: “…Tôi yêu cầu thi
hài tôi được đốt đi, tức là “hỏa tang”… Tro thì chia làm 3 phần, bỏ
vào 3 cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một
hộp cho miền Nam...”
Sự việc nầy một lần nữa cho thấy suốt đời, cho đến khi gần chết, HCM
luôn luôn tỏ ra thiếu thành thật, không thẳng thắn trong lời nói và
việc làm của ông, nếu không muốn nói là ông luôn luôn đạo đức giả.
Gần ba tháng sau khi HCM qua đời, trong cuộc họp ngày 29-11-1969, Bộ
chính trị ra quyết định ướp xác HCM và xây dựng một lăng mộ phản ảnh
những nét hiện đại, nhưng vẫn giữ đuợc đặc tính dân tộc cổ truyền.(3)
Thật sự ra, nếu để đến ba tháng mới ướp xác thì cái xác HCM đã bị ung
thối, nên chắc chắn việc ướp xác đã được Bộ chính trị cho thi hành
ngay sau khi HCM chết.
Theo tiết lộ từ các chuyên viên Viện lăng Lenin, ngày 28-8-1969, đoàn
chuyên viên y khoa Liên Xô gồm 5 thành viên của Viện lăng Lenin là các
giáo sư Debov (trưởng đoàn), Polukhin. Michaelov, Kharascov và Saterov
đến Hà Nội.
Ngày 2-9, lúc 11 giờ các giáo sư nầy đến Quân y viện 108 khám nghiệm
xác HCM vừa được đưa đến đặt ở đây, với sự có mặt của Nguyễn Lương
Bằng, Lê Quang Đạo, Phùng Thế Tài. Hai bác sĩ Polukhin và Mikhaelov
bắt đầu mổ xác HCM, với sự phụ tá của hai bác sĩ Việt Nam. Sau ba ngày
theo dõi, người ta di chuyển xác HCM đến Hội trường Ba Đình tối
5-9-1969.(4)
Lúc đầu, các chuyên gia Liên Xô muốn đưa xác HCM về Moscow ướp vì theo
họ việc nầy không thể thực hiện được ở Hà Nội do điều kiện kỹ thuật ở
đây không đầy đủ. Giáo sư trưởng đoàn Debov đã báo cho Lê Duẫn biết ý
kiến nầy, nhưng có lẽ Lê Duẫn sợ Liên Xô đem xác HCM về Liên Xô làm
con tin, nên phản đối.
Lúc đó, thủ tướng Liên Xô là Alexei Kosygin, đang qua Hà Nội viếng
tang HCM, yêu cầu toán chuyên gia tìm cách ướp xác tại Hà Nội, và
chính phủ Liên Xô sẽ cung cấp đầy đủ tiện nghi để làm việc.(4) Chiến
tranh càng ngày càng ác liệt. Hà Nội bị máy bay Hoa Kỳ oanh tạc, nên
xác HCM cũng như toán chuyên gia Liên Xô phải sơ tán lên một hang động
rộng rãi bên bờ sông Đà.
Cuối cùng, sau 8 tháng ướp xác với những điều kiện khí hậu nhiệt đới
và phải di chuyển vì sơ tán, các chuyên gia Liên Xô tin rằng xác HCM
có thể duy trì được trong thời gian dài. Sau khi Hiệp định Paris được
ký kết ngày 27-1-1973, Hoa Kỳ ngưng hẳn cuộc oanh tạc Bắc Việt, xác
của HCM mới được đưa về Hà Nội năm 1975.(4)
Khi Bộ chính trị đảng LĐ lúc đó quyết định xây lăng và ướp xác HCM, có
hai câu hỏi được đặt ra là: Phải chăng họ làm thế vì kính trọng HCM?
Và tại sao CS duy vật lại xây lăng như kiểu các vua chúa ngày xưa?
Thứ nhất, HCM là lãnh tụ tối cao của đảng LĐ. Bề ngoài ông luôn luôn
được các thuộc hạ tôn kính, nhưng thực tế bên trong đảng, các thuộc hạ
của ông nhiều lần chứng tỏ thiếu kính trọng ông ta trong những năm
cuối đời.
Ví dụ cụ thể là vụ bà Xuân, vợ HCM bị Trần Quốc Hoàn hiếp dâm. Theo
một tài liệu mới tiết lộ, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Trần Quốc Hoàn lại còn
âm mưu sát hại HCM vào năm 1967. Tài liệu nầy cho biết người phi công
tên là Thắng, lái chuyến bay đưa HCM từ Bắc Kinh trở về đến Hà Nội
ngày 23-12-1967, khi đáp xuống phi trường thì “…thấy đèn hiệu đường
băng chệch 150 không hạ cánh được, đã điện hỏi nhiều lần nhưng không
trả lời. Anh bèn hạ cánh theo trí nhớ. May mà an toàn.“(5)
Sau đó, khi HCM chết năm 1969, các thuộc hạ của ông chẳng kính trọng
di chúc của ông và làm trái với những điều ông đã dặn.
Thứ hai, CS chủ trương duy vật vô thần, chống lại các tín ngưỡng, tiêu
diệt các tôn giáo, triệt hạ các đền đài, chùa chiền và nhà thờ, tại
sao lại đi ngược di chúc HCM, xây lăng, ướp xác HCM để mọi người chiêm
bái?
Trước khi chết, HCM viết trong di chúc: “…Vì vậy tôi để sẵn mấy lời
nầy, fòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Cac Mac, cụ Lênin và các vị c. m. đàn
anh khác...” (Nguyên văn bản chụp di chúc HCM, BNCLSĐ, sđd. tr.171).
Điều nầy có nghĩa là trước khi chết, HCM tin rằng linh hồn con người
còn hiện hữu sau khi qua đời, và cũng có nghĩa là HCM đã phản bác lại
chủ nghĩa duy vật, quay về với tín ngưỡng linh hồn cổ xưa của con
người và của dân tộc.
Về phía Bộ chính trị, chắc chắn không phải vì tin vào sự hiện hữu của
linh hồn, mà Bộ chính trị đảng LĐ đã xây lăng cho HCM. Để bào chữa cho
việc sửa đổi di chúc HCM của ban lãnh đạo đảng LĐ năm 1969, không hỏa
táng mà lại ướp xác ông Hồ, thông báo của ban lãnh đạo đảng CSVN năm
1989 (20 năm sau) viết như sau: “Sở dĩ trước đây chưa công bố đoạn Bác
viết về yêu cầu hỏa táng là vì thể theo nguyện vọng và tình cảm của
nhân dân, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) thấy
cần thiết phải giữ gìn lâu dài thi hài của Bác để sau nầy đồng bào cả
nước, nhất là đồng bào miền Nam, bè bạn quốc tế có điều kiện tới viếng
Bác, thể hiện tình cảm sâu đậm với Bác. Chính vì lẽ đó mà chúng ta đã
xin phép Bác về điểm này được làm khác lời Bác dặn.“(6)
Hồ Chí Minh đã chết thì làm sao còn xin phép được nữa? Đó chỉ là cách
ngụy biện để che đậy những ý đồ riêng tư của đảng LĐ có thể phỏng đoán
như sau:

+ Vinh danh sự thừa kế: Tại các nước tự do dân chủ, các định chế chính
trị cụ thể minh định rõ ràng việc chuyển giao quyền hành. Một người
muốn lên cầm quyền, hoặc muốn được kế thừa chính thống, đều phải qua
thủ tục phổ thông đầu phiếu tự do, và quyền quyết định thuộc về cử tri
tức dân chúng. Có khi dân chúng trực tiếp bầu người lãnh đạo, có khi
bầu quốc hội và quốc hội bầu nhà lãnh đạo. Do đó không có việc thừa kế
mặc nhiên theo cách cha truyền con nối trong chế độ quân chủ, hoặc
theo hệ thống đảng trị của các chế độ độc tài như chế độ CS. Chính vì
sự mặc nhiên nầy nẩy sinh ra nhu cầu vinh danh sự thừa kế để tạo uy
thế cho những nhà cầm quyền mới.
Ngày trước, các hoàng đế sáng tổ các vương triều thường truy phong cha
mẹ tước vị vua chúa, và làm lăng để thờ phượng. Các hoàng thái tử khi
lên thừa kế vương nghiệp, việc làm đầu tiên là đặt miếu hiệu để tôn
kính vua cha. Ngoài lòng hiếu thảo đối với bề trên, việc nầy còn nhắm
chứng tỏ sự thừa kế chính thống của vị vua mới, trước triều đình và
dân chúng.
Một ví dụ rõ nét nhất về vấn đề nầy là khi chính cung hoàng hậu của
vua Gia Long (trị vì 1802-1819) từ trần (1814), các quan trong triều
đề nghị để cho cháu nội ruột của bà là Mỹ Đường, con của hoàng tử Cảnh
(đã từ trần năm 1801), đứng chủ tế, nhưng vua Gia Long không đồng ý.
Nhà vua đặt hoàng tử Đảm, con của ông với bà vợ thứ hai làm chủ tế.(7)
Nhà vua hành động như vậy nhắm đề cao hoàng tử Đảm, và sau đó vua Gia
Long đưa hoàng tử Đảm lên ngôi vị Đông cung (1815), chuẩn bị để kế vị
ngai vàng khi Gia Long từ trần năm 1819.
Sau khi Lenin từ trần ngày 21-1-1924, Stalin đã chủ động làm tang lễ
thật vĩ đại, ướp xác, xây lăng cho Lenin để khẳng định ưu thế thừa kế
lãnh đạo đảng CSLX của ông đối với địch thủ trong nội bộ đảng CSLX là
Trotsky.(8)
Vào thời điểm khi HCM chết, Lê Duẫn, Trường Chinh, Lê Đức Thọ trong Bộ
chính trị đảng LĐ vừa mới đưa vào tù một số uỷ viên Trung ương đảng và
một số tướng lãnh, kiếm cách giải quyết dứt điểm vụ án mà nhóm Lê
Duẫn, Lê Đức Thọ gọi là “Vụ án Tổ chức chống Đảng, chống Nhà nước ta,
đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài” (từ
giữa 1967 trở đi).
Đồng thời đảng LĐ tổ chức tổng công kích, tổng khởi nghĩa ở miền Nam
nhiều đợt trong năm 1968, nhưng bị quân lực Việt Nam Cộng Hòa bẻ gãy
chiến dịch nầy, gây thiệt hại nặng nề cho Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng
Miền Nam, tay sai của Hà Nội. Vì vậy, uy tín của Bộ chính trị đảng LĐ
lúc đó bị sút giảm rõ rệt ở trong nước, trong nội bộ đảng và cả trên
thế giới.
Trước tình hình nầy, do nhu cầu khẳng định sự kế thừa của nhóm Lê Duẫn
để vượt qua những khó khăn chính trị, năm 1969 Bộ chính trị đảng LĐ tổ
chức tang lễ HCM thật rầm rộ, và xây dựng lăng mộ HCM thật đồ sộ cao
ráo giữa thành phố Hà Nội để thần thánh hóa HCM. Thần thánh hóa HCM,
vinh danh một cách long trọng sự nghiệp HCM, có nghĩa là để chính thức
vinh danh đảng CSVN do HCM sáng lập và lãnh đạo, từ đó vinh danh và
chính thức hóa những kẻ kế thừa sự nghiệp và quyền bính của HCM, hay
nói cách khác vinh danh luôn nhóm người đang lãnh đạo đảng LĐ và nhà
nước cộng sản Bắc Việt lúc đó.
Kế thừa uy tín, quyền bính và sự nghiệp của HCM, đảng LĐ hy vọng quốc
tế sẽ tiếp tục hỗ trợ Bắc Việt sau vụ tổng công kích Tết Mậu Thân
(1968) thất bại, và nhất là cần đến uy tín của HCM để đoàn kết nội bộ
đảng LĐ, lúc đó đang có nguy cơ xảy ra cuộc tranh quyền giữa các nhóm
trong Bộ chính trị.
Sùng bái cá nhân: Nạn sùng bái cá nhân phát triển mạnh dưới thời
Stalin cầm quyền ở Liên Xô (1924-1953). Để chuẩn bị sùng bái chính
mình, Stalin đã mở chiến dịch sùng bái Lenin một cách lố lăng. Khi
Lenin từ trần ngày 21-1-1924, “Những kẻ kế thừa Lenin còn xưng tụng
hơn nữa khi Lenin mất bằng cách đổi tên thành phố lớn Petrograd thành
Leningrad. Đây là một hành vi sùng bái mà chắc chắn khi còn sống Lenin
không cho phép. Cũng vậy, ắt hẳn ông ta không thể chấp thuận những
khía cạnh khác của việc sùng bái Lenin được dùng như màn giáo đầu cho
việc sùng bái Stalin sau nầy còn ngông cuồng hơn nữa.”(9)
Xây lăng cho Lenin, Stalin cũng nhắm xây sinh phần cho chính ông ta.
Sau nầy, khi từ trần ngày 5-3-1953, lúc đầu Stalin cũng được hưởng
những nghi thức vinh quang như Lenin, và như ông ta đã nghĩ trước, ông
ta được đặt nằm bên cạnh Lenin trong lăng tại Công trường Đỏ.(9)
Ba năm sau, Stalin bị Khrushchev hạ bệ trong trong Đại hội lần thứ 20
đảng CSLX năm 1956. Sau đó, trong Đại hội lần thứ 22 đảng CSLX năm
1961, Khrushchev quyết định đưa di hài của Stalin ra khỏi Công trường
Đỏ. Việc nầy được thi hành ngày 30-10-1961. (10)
Năm 1969, đảng LĐVN cũng đi vào vết xe sùng bái cá nhân, ướp xác và
xây lăng cho HCM. Bệnh sùng bái lãnh tụ ở Việt Nam tuy không nổi cộm
như Liên Xô thời Stalin, nhưng ngấm ngầm hết sức rộng rãi. Việc nầy do
chính HCM khuyến khích. Bằng chứng là khi Khrushchev đả kích tệ nạn
sùng bái cá nhân của Stalin trong bài diễn văn đưa ra ngày 25-2-1956
về đề tài”Về sự sùng bái cá nhân và hậu quả” (On the Cult of
Personality and its Consequences) tại Đại hội 20 đảng CSLX, tất cả các
nước CS trên thế giới, kể cả Trung Cộng, đều mở chiến dịch học tập
chống việc sùng bái cá nhân, trừ Bắc Việt.
Trước sau, cho đến nay và có lẽ đến ngày chế độ CSVN sụp đổ, CS Hà Nội
hoàn toàn không phổ biến công khai trước dân chúng bài diễn văn của
Khrushchev hạ bệ Stalin. Đảng LĐ cũng không đả động gì đến việc chống
sùng bái cá nhân. Cho đến khi bị vặn hỏi trong hội nghị cán bộ cao cấp
và trung cấp tại Câu lạc bộ quân nhân ở Hà Nội từ 28-4 đến 3-5-1956,
tổng bí thư đảng LĐ, Trường Chinh, mới đành thú nhận “cũng đã có hiện
tượng sùng bái cá nhân nhưng chưa đến mức trầm trọng“.(11) Trường
Chinh nói thế cho qua chuyện chứ căn bệnh sùng bái cá nhân đã ăn sâu
nặng nề và HCM cũng như Bộ chính trị đảng LĐ cũng không muốn sửa chửa
hay thay đổi. Suy tôn HCM để rồi suy tôn luôn cả Bộ chính trị. Cần lưu
ý là trong thời gian nầy, HCM còn rất khỏe mạnh và minh mẫn.
Cộng sản Việt Nam cũng học theo cách sùng bái lãnh tụ kiểu Stalin. Hồ
Chí Minh chỉ hoạt động ở Bắc Việt, không dính dáng gì đến miền Nam,
nhưng để áp đảo dân chúng, năm 1975 cộng sản đã đổi tên thành phố Sài
Gòn là Thành phố Hồ Chí Minh, một việc làm chưa từng có trong lịch sử
Việt Nam và cả lịch sử Á châu. Người châu Á nói chung không bao giờ
dùng tên nhân vật lịch sử để đặt tên thành phố. Sau khi Liên Xô sụp đổ
năm 1991, các thành phố Leningrad, Stalingrad đều được đổi lại tên cũ
là Petrograd (St Petersburg) và Volgograd.
Cho đến nay, tuy chế độ cộng sản Việt Nam chưa sụp đổ, nhưng dân chúng
và du khách không ai gọi là Thành phố Hồ Chí Minh, mà chỉ gọi tên Sài
Gòn, ngoại trừ giấy tờ công văn hành chánh. Chắc chắn trong một ngày
không xa Sài Gòn sẽ chính thức lấy lại tên cũ.

+Duy trì chế độ độc tài: Trong dân chúng, mục đích của việc xây mộ là
để kỷ niệm người quá cố, và đồng thời là một hình thức để người quá cố
sống với thân nhân còn sống, hay nói cách khác, kéo dài cuộc đời, sự
nghiệp của người quá cố bên cạnh những người còn sống. Trong trường
hợp các chế độ độc tài như chế độ CS, xây lăng và ướp xác các lãnh tụ,
tuy nói là để kỷ niệm các lãnh tụ đó, nhưng kỳ thật còn để duy trì sự
sùng bái lãnh tụ, từ đó duy trì luôn nền độc tài mà các lãnh tụ đã lập
ra, bóp nghẹt những sinh hoạt tự do dân chủ của dân chúng, nhất là
giới trí thức.
Hồ Chí Minh là người đã cho thi hành Cuộc cải cách ruộng đất giết hại
khoảng dưới 200,000 người. Hồ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh ngày
15-12-1956 bắt buộc báo chí phải phục vụ nền chuyên chính vô sản,
không được chống chế độ, chống chính phủ, không được xúi giục nhân dân
và bộ đội làm loạn… và sẽ phạt tù từ 5 năm đến chung thân khổ sai,
tịch thu tài sản nếu ai phạm vào những điều cấm.(12) Hồ Chí Minh đã để
cho Lê Duẫn, Lê Đức Thọ tiêu diệt những người bất đồng chính kiến
trong đảng LĐ chỉ vì những người nầy theo chủ trương chung sống hòa
bình của Nikita Khrushchev (Liên Xô), và không đồng ý việc tiến hành
chiến tranh chống miền Nam.
Đảng LĐ muốn lợi dụng huyền thoại và nấm mồ bề thế của HCM để uy hiếp
tinh thần và tâm lý dân chúng, vì dân chúng Việt Nam, từ ngàn xưa vốn
tin tưởng rằng linh hồn con người vẫn tồn tại sau khi chết, huống gì
là cái xác của HCM chưa được chôn cất hay hủy hoại, và vẫn nằm đó bên
cạnh người sống.
Một công thức chung trong các bài điếu văn của các lãnh tụ cộng sản kế
thừa ở Liên Xô, Việt Nam, hay Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, khi tổ chức
tang lễ cho những lãnh tụ quá cố, đại khái là “Biến đau thương thành
hành động cách mạng, tiến lên hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà
[Lenin, hay HCM, hay Mao Trạch Đông] đã đề ra…v.v.” Điều nầy chứng tỏ
là cái chết của các lãnh tụ cũng là cơ hội tốt cho các kẻ kế thừa kêu
gọi kéo dài hay duy trì chế độ độc tài CS.

+Bất tử hóa Đảng Lao Động: Từ năm 1945, do chính sách tiêu diệt tín
ngưỡng, các chốn thờ phượng, chùa chiền, nhà thờ đều bị các lực lượng
CS kiếm cách đập phá hay làm nhà ở, kho tàng mà không bảo trì hoặc sửa
sang. Các cung điện ở Huế, các thành trì ở các tỉnh trên toàn quốc xây
doing thời nhà Nguyễn cũng bị triệt hạ, nên những công trình kiến trúc
lớn trong nước hầu như đều hư hỏng. Trước tình trạng chung đó của cả
Bắc Việt, lăng HCM nổi lên thành công trình xây cất đồ sộ, kiên cố,
vững bền, trang trí đẹp đẽ, lộng lẫy nổi bật giữa thành phố Hà Nội và
cả toàn thể Bắc Việt.
Lăng HCM là công trình xây dựng duy nhất ở Hà Nội từ 1954 đến 1975.
Mục đích của CS là để cho dân chúng có một ấn tượng sâu sắc về lăng
HCM, chỉ còn biết, và nhớ đến lăng HCM, tức là chỉ còn biết và nhớ đến
đảng LĐ sau cải danh thành đảng CSVN. Đảng LĐ chủ trương đưa HCM lên
hàng anh hùng số 1 của Việt Nam, tên tuổi HCM bất diệt thì những người
thừa kế cũng được bất diệt theo, và lăng HCM còn, có nghĩa là tên tuổi
đảng LĐ tức đảng CSVN còn.
Tất cả những lý do trên đây khiến Bộ chính trị đảng LĐVN xây lăng đồ
sộ cho HCM. Xây lăng đồ sộ cho những lãnh tụ là căn bệnh chung của các
nước CS độc tài. Năm 1976, khi Mao Trạch Đông chết, CHNDTH cũng làm y
như thế. Đặng Tiểu Bình (Deng Yingchao/Teng Ying-ch’ao) , một lãnh tụ
CHNDTH, đã phát biểu:
“Trong thập niên 50, Chủ tịch Mao nói rằng khi qua đời, tất cả những
đồng chí lãnh tụ Trung Quốc nên được thiêu và chỉ giữ lại tro cốt mà
thôi. Không có mộ, không có lăng cho giới lãnh đạo. Sở dĩ có đề nghị
nầy là do bài học học được sau cái chết của Stalin, và được cụ thể hóa
dưới hình thức một văn kiện. Chủ tịch Mao là người đầu tiên ký vào văn
kiện nầy, và nhiều viên chức cao cấp cũng đã ký vào, kể cả tôi. Quả
thật, Chu Ân Lai đã được hỏa thiêu cho thấy rằng tài liệu đó vẫn còn
tồn tại.“(13)
Tuy nhiên, tám tháng sau khi Chu Ân Lai (Zhou Enlai / Chou En-lai) từ
trần, Mao Trạch Đông (Mao Zedong/Mao Tse-tung) qua đời ngày 9-9-1976,
người kế nhiệm họ Mao là Hoa Quốc Phong (Hua Guofeng/Hua Kuo-feng) và
Bộ chính trị đảng CSTH lúc đó, lại không hỏa thiêu họ Mao, mà xây dựng
một “Kỷ niệm đường” ở Thiên An Môn (Bắc Kinh) để đặt xác ướp của họ
Mao, theo y thuật Trung Hoa chứ không nhờ Liên Xô.(14)
Việc CHNDTH gọi ngôi mộ của Mao Trạch Đông là “kỷ niệm đường ” xem ra
khiêm nhượng hơn chữ “lăng” để chỉ ngôi mộ HCM. Nền văn hóa Trung Hoa
trước đây ảnh hưởng lớn đến nước ta, nên Trung Hoa có những từ ngữ gần
gũi với Việt Nam hơn các nước Tây Âu.
“Kỷ niệm đường” có tính cách bình dân, phổ quát. Ngược lại “lăng” là
biểu hiện của vua chúa phong kiến, xa cách quần chúng. Thiên An Môn ở
Bắc Kinh cũng giống Ba Đình ở Hà Nội, nằm ngay tại trung tâm của thủ
đô, tức trung tâm đầu não lãnh đạo của đảng CS.
Lúc đó, Hoa Quốc Phong đang rất cần đến uy tín của Mao để duy trì
quyền lực, và để đoàn kết tất cả những thành phần chống đối nhau trong
trong đảng CSTQ, từ nhóm Tứ nhân bang gồm có vợ của Mao Trạch Đông là
Giang Thanh (Jiang Qing/Chiang Ch’ing), Vương Hồng Văn (Wang Hongwen/
Wang Hung-wen), Diêu Văn Nguyên (Yao Wenyuan/Yao Wen-yuan), Trương
Xuân Kiều (Zhang Chunqiao/Ch’iang Ch’un-ch’iao), đến phe phái của Đặng
Tiểu Bình.
Trong khi đó, tại các nước dân chủ tự do, các lãnh tụ qua đời có thể
được đưa vào chôn hoặc thờ ở các nghĩa trang quốc gia, tức là nghĩa
trang chung của những anh hùng dân tộc, như nghĩa trang Arlington ở
Washington D.C. của Hoa Kỳ, hay điện Panthéon (văn giới như Victor
Hugo) và điện Invalides (võ giới như Napoléon Bonaparte) ở Paris của
Pháp.
Trong tang lễ của các lãnh tụ thế giới tự do, gia đình người quá cố
chủ động việc chôn cất với sự phối hợp của chính quyền. Ngược lại, đám
tang của các lãnh tụ CS hoàn toàn do nhà cầm quyền cộng sản quyết
định, và danh sách các nhân vật trong ban tổ chức tang lễ phản ảnh thứ
tự chính trị của họ trong đảng CS và trong chính quyền, cũng giống như
tang lễ của các vua chúa. Ngoài ra, cấp bậc của các nhân vật trong ban
tổ chức tang lễ CS luôn luôn tương xứng với cấp bậc của người CS quá
cố.
Trở lại vấn đề xây dựng lăng HCM, kiến trúc sư Hoàng Như Tiệp, tổng
thư ký Hội kiến trúc sư CSVN, đã viết bài gợi ý cho những nhà vẽ mô
hình lăng HCM phải đạt những tiêu chuẩn như sau: “Khi chúng ta vào
lăng Bác Hồ, chúng ta sẽ có cảm giác như Người còn sống, và chúng ta
sẽ cảm thấy cực kỳ bình an, lặng lẽ và tôn kính giấc ngủ của Bác Hồ…”
Theo ông Tiệp, làn sóng người vào thăm lăng phải tượng trưng cho “sức
sống vô tận của Bác Hồ trong trái tim mỗi người và trong dấu ấn bền
vững mà Bác đã để lại cho tổ quốc.” Tiệp còn cho rằng lăng HCM không
nên tạo ra cảm giác buồn tẻ của các tu viện tôn giáo, cũng không nên
là nơi hội họp ồn ào của đám đông. Lăng phải vừa trang nghiêm, vừa
sinh động. “Khi hoàn thành, lăng Hồ Chủ tịch sẽ là một công trình kỷ
niệm lịch sử quan trọng đặc biệt đối với nhân dân ta và bạn bè khắp
thế giới, một công trình kỷ niệm phù hợp với sự nghiệp cao cả của Hồ
Chủ tịch và thời đại Hồ Chí Minh, thời đại sáng chói nhất trong lịch
sử quang vinh của nhân dân ta.”(15)
Uỷ ban xây dựng lăng HCM gồm đại diện Bộ Xây dựng và Bộ Quốc phòng
được thành lập do Đỗ Mười, lúc đó là Uỷ viên Trung ương đảng, làm chủ
tịch.(16) Uỷ ban nầy đã nghiên cứu nhiều kiểu mẫu kiến trúc lưu niệm
như Kim tự tháp Ai cập, Đền Victor Emmanuel ở Rome, Đài tưởng niệm
Lincoln ở Washington D.C. và lăng Lenin ở Moscow. Những dự án kiến
trúc đề nghị được Bộ chính trị đưa ra trưng bày trên toàn quốc để hỏi
ý kiến công chúng.
Tại sao những vấn đề chính trị quan trọng không hỏi ý kiến dân chúng
mà chỉ hỏi mẩu lăng HCM? Tháng 12-1971, Bộ chính trị quyết định lần
chót đồ án xây cất, và công cuộc xây lăng bắt đầu một thời gian ngắn
sau khi Hiệp định Paris được ký kết (27-1-1973). (17)
Lăng HCM được xây dựng tại khu vực Quảng trường Ba Đình, gần vườn
Bách thảo, phía trước Phủ Chủ tịch (nước VNDCCH). Phủ Chủ tịch vốn là
dinh Toàn quyền Đông Dương thời Pháp thuộc, được xây dựng vào năm
1906. Phía trước Phủ Toàn quyền là bãi Cột cờ Pháp thường được gọi là
Rond-point Puginier, nơi người Pháp tổ chức những lễ lớn hằng năm, và
tổ chức duyệt binh trên con đường trước Phủ Toàn quyền. Vào tháng
8-1945, dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim, Rond-point Puginier được
đổi tên là quảng trường Ba Đình.(18) Chính tại quảng trường bãi Cột cờ
nầy, vào ngày 2-9-1945, khi cướp được chính quyền, HCM đã làm lễ đọc
tuyên bố mà CS gọi là bản Tuyên ngôn độc lập.
Đồ án lăng HCM được Bộ chính trị đảng LĐ chọn lựa do người Liên Xô vẽ
kiểu, đứng cao lên giữa Hà Nội, được giải thích là hình ảnh một đóa
hoa sen nhô cao lên mặt nước, theo kiểu dáng một ngôi chùa gần đó,
chùa Một Cột, được xây dựng vào thế kỷ 11. Thật ra, ai cũng thấy lăng
HCM hoàn toàn giống như lăng Lenin ở Công trường Đỏ tại Moscow. Liên
Xô cử người sang làm tổng công trình sư, điều khiển tiến trình thiết
kế thi công, và chỉ để cho phía Bắc Việt cung cấp nhân công và vật
liệu mà thôi.
Công trình xây cất kéo dài hơn 2 năm, tập trung tất cả những vật liệu
quý hiếm khắp nơi trong nước, như gỗ quý từ lâm viên Quốc gia Cúc
Phương, những vật tư quý hiếm ở các tỉnh miền Nam đang có chiến tranh,
như đá cẩm thạch Non Nước, Đà Nẵng,(19) và đặc biệt sử dụng cả những
khối đá lớn chở qua từ Crimée, phía tây nam Liên Xô.
Lăng HCM được khánh thành ngày 29-8-1975,(19) mở đầu tuần lễ mừng
chiến thắng miền Nam sau khi cộng sản Bắc Việt tràn quân cưỡng chiếm
miền Nam tháng 4-1975, mừng quốc khánh của cộng sản (2-9) và kỷ niệm
ngày chết của HCM theo chủ trương ban đầu là 3-9.
Lúc đó, đây là tòa nhà công cộng duy nhất ở Bắc Việt được điều hòa
không khí. Cần chú ý thêm là lăng Lenin nằm bên cạnh điện Kremlin, kỷ
niệm đường Mao Trạch Đông nằm ở Thiên An Môn, tức là cả hai đều nằm
trong một quần thể kiến trúc của khu vực (điện Kremlin và Thiên An
Môn) và trong tổng thể kiến trúc của hai thành phố lớn (Moscow và Bắc
Kinh), nên không nổi bật như lăng HCM, đứng sừng sững đơn độc cao ngất
trước và trên Phủ chủ tịch, ngự trị một cách oai vệ vùng trung tâm
thành phố Hà Nội.
Trước năm 1954, tại Hà Nội có các dinh cơ lớn là Phủ Toàn quyền Đông
Dương, Phủ Thống sứ Bắc Kỳ, Đông Dương ngân hàng, Tòa án Hà Nội, Nhà
Hát lớn Hà Nội, và Đông Dương Đại học xá. Lăng HCM là công trình xây
cất mới duy nhất ở Hà Nội trong suốt 20 năm cầm quyền của đảng LĐ ở
Bắc Việt. Từ năm 1954 đến 1975, toàn bộ thành phố, đường sá, nhà cửa,
kể cả nhà cửa tư nhân ở Hà Nội đều vẫn như cũ. Không xây nhà cho dân
chúng hoặc công trình tiện ích xã hội, mà đảng LĐ lại tập trung tài
vật toàn quốc xây một nhà mồ ướp xác như các hoàng đế Ai Cập cổ xưa
xây Kim tự tháp. Điều nầy cho thấy quan niệm của CS chỉ là “Trung với
đảng, hiếu với lãnh tụ”.
Trước khi lăng HCM ra mắt công chúng, đảng LĐ ra lệnh cho toàn thể các
tỉnh khắp nước gởi về các loại cây cối, bông hoa quý hiếm trồng chung
quanh lăng để tạo phong cảnh thiên nhiên Việt Nam.
Lăng HCM, ngay khi mới khánh thành, đã bị nhiều người ở Bắc Việt lúc
đó phê bình về nhiều điểm:
* Trước hết, người ta nói rằng đảng LĐ, đổi tên thành đảng CS năm
1976, đã vi phạm di chúc của HCM. Hồ Chí Minh muốn thiêu xác sau khi
chết, chứ không phải ướp xác trưng bày trong lăng.
* Mô hình lăng có tính cách ngoại lai theo kiểu vua chúa ở Âu châu chứ
không mang những đặc tính Việt Nam. Điều nầy không lấy gì làm lạ vì
người Liên Xô vẽ kiểu theo mẫu lăng Lenin ở Công trường Đỏ tại Moscow,
Liên Xô. Đương nhiên, người Liên Xô muốn chứng tỏ ưu thế chính trị và
văn hóa của họ ở Bắc Việt nên đã xây lăng HCM theo mô thức lăng Lenin
ở Moscow.
Trong di chúc, HCM dự định sau khi chết, ông sẽ đi gặp Karl Marx,
Lenin chứ không nghĩ đến chuyện đi gặp tổ tiên tộc họ nhà ông, hoặc
gặp Quốc tổ Hùng Vương. Nay Bộ chính trị lại xây lăng HCM theo mô hình
lăng Lenin, chứ không mang đặc tính kiến trúc dân tộc. Cả hai điều nầy
cho thấy HCM và lãnh đạo đảng LĐ chỉ trung thành với các lãnh tụ của
CS quốc tế. Đây là bằng chứng không thể chối cãi, cho đến khi chết,
HCM và cả các đệ tử của ông chỉ là những người CS quốc tế chứ không
phải là những người theo chủ nghĩa dân tộc.
* Ngay từ đầu, đảng LĐ gọi ngôi mộ của HCM là lăng. Trong tiếng Việt,
“lăng”, hay “lăng miếu, lăng mộ, lăng tẩm” là những từ ngữ để gọi các
ngôi mộ của vua chúa hay các đại quan thời quân chủ (ví dụ lăng Gia
Long, lăng Ông tức lăng Lê Văn Duyệt…), trong khi chế độ CS luôn luôn
tự cho là dân chủ, hô hào chống lại nền quân chủ phong kiến, lại gọi
mộ HCM là lăng.
Đảng LĐ xây lăng HCM quá đồ sộ trong lúc dân tình đói khổ, nhà cửa cũ
kỹ xơ xác, nghèo khổ. Sự tương phản lớn lao nầy ngay tại thủ đô Hà Nội
tạo ra một hình ảnh xã hội cách biệt sâu rộng giữa người cầm quyền và
dân chúng dưới chế độ CS. Nhà cầm quyền CS lại còn bắt dân chúng cung
phụng những gì quý hiếm ở các địa phương, đưa về trang trí lăng HCM,
không khác gì các vua chúa ngày xưa đòi các địa phương phải đem phẩm
vật tiến triều.
Năm 1989, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã viết một truyện ngắn tựa đề là
“Vàng lửa”, hư cấu một vài sinh hoạt cũng như đặc tính của vua Gia
Long (trị vì 1802-1819), và ông kết luận: “Triều Nguyễn của vua Gia
Long lập ra là một triều đại tệ hại. Chỉ xin lưu ý bạn đọc đây là
triều đại để lại nhiều lăng.”(20) Ngoài những lời lẽ trong truyện ngắn
nầy làm cho người đọc liên tưởng đến HCM, tuy chê triều Nguyễn là “một
triều đại tệ hại”, tại sao Nguyễn Huy Thiệp không lưu ý việc gì, mà
lại chỉ xin lưu ý chuyện để lại nhiều lăng? Phải chăng câu văn cuối
cùng của truyện ngắn trên là một ẩn dụ hết sức kín đáo của nhà văn, để
mai mỉa đảng LĐ và HCM cũng xây lăng giống như vua Gia Long thời quân
chủ mà CS đã hết lời đả kích triều đại nầy?
Trước đây, có câu ca dao lịch sử mà cộng sản thường truyền bá để chê
bai việc xây lăng của vua Tự Đức (trị vì 1847-1883):
“Vạn Niên là Vạn Niên nào,
Thành xây xương lính, hào đào máu dân.”
Nay dân chúng ngoài Bắc thêm vào hai câu để chỉ lăng HCM:
“Ba Đình còn gấp chục lần,
Dân đen gãy cổ, mát thân cụ Hồ.”(21)
Đề cập đến lăng triều Nguyễn, có lẽ chúng ta cần chú ý: theo quan niệm
quân chủ Đông phương, vua là con Trời (Thiên tử), chẳng những nắm thế
quyền, mà nhà vua nắm luôn cả thần quyền, có thể phong tước cho thần
linh. Vua tượng trưng cho Trời đất và cả dân chúng, cho nên lăng mộ
nhà vua phải tương xứng với chức năng thay Trời trị nước của nhà vua.
Lăng của các vua triều Nguyễn đẹp phần lớn nhờ nằm trong vùng đồi núi
hùng vĩ hơn là nhờ công trình xây cất nhân tạo. Lăng Gia Long, người
khai sáng triều đại nhà Nguyễn, rất đơn sơ; còn lăng của các vua khác
cũng chẳng xa hoa so với lăng tẩm vua chúa Trung Hoa, hoặc so sánh
ngay với lăng HCM.
Lăng của các vua nhà Nguyễn là nơi để yên nghỉ tĩnh lặng, kín đáo, hòa
đồng với thiên nhiên, chứ không phải là nơi để triển lãm xác chết như
lăng HCM. Trong ngôi mộ ở Ba Đình, xác của HCM được đặt nằm trong một
cái hòm trong suốt bằng kính, trong phòng điều hòa không khí, để người
ta đến thăm viếng.
Một khi lăng các vua được xây xong, tang lễ hoàn tất, chỉ có các bà vợ
vua vào đó ẩn cư, sống cuộc đời khổ hạnh, thủ tiết thờ chồng và không
phiền lụy đến dân gian. Ngược lại, việc tổ chức và duy trì lực lượng
quân sự để bảo vệ lăng HCM hao tốn một ngân quỹ nhà nước hết sức lớn
lao hằng năm, từ 1969 cho đến nay. Báo chí hải ngoại ước tính trung
bình mỗi năm việc bảo trì xác ướp và bảo vệ lăng HCM tốn kém trên một
trăm ngàn Mỹ kim.(22)
Tuy nhiên, theo một đảng viên trong nước tiết lộ thì số tốn phí mỗi
năm cao hơn, lên đến khoảng bảy triệu Mỹ kim mỗi năm,(23) có thể do
tính chung cả việc bảo trì xác ướp và bảo vệ lăng. Tư lệnh quân đội
bảo vệ lăng là một sĩ quan cấp tướng, với ít nhất hai tiểu đoàn chính
quy, và không biết bao nhiêu cảnh sát vừa nổi vừa chìm đứng gác.
Sinh hoạt của lăng nầy tiêu thụ một lượng điện và nước tiêu dùng bằng
một quận lớn ở thành phố, trong khi dân chúng thiếu thốn điện nước
trong sinh hoạt hằng ngày. Dân chúng phải đóng thuế để đài thọ số tiền
tốn kém lớn lao nầy, và càng đóng thuế nhiều thì càng oán thán nhiều.
Để quảng cáo cho lăng HCM, nhà nước CS ra lệnh các trường học và các
địa phương phải tổ chức những cuộc đi thăm lăng “bác”. Có khi ít người
thăm viếng lăng nầy, ban Bảo vệ lăng có sáng kiến tặng quà cho những
ai chịu khó sắp hàng vào thăm lăng.
Tưởng cũng nên thêm ở đây, khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, ở Hà Nội việc
duy trì xác ướp HCM gặp khó khăn cả về kỹ thuật lẫn tài chánh. Người
ta đã nghĩ đến việc thiêu xác ông ta. Để mở đầu thăm dò dư luận, báo
Tuổi Trẻ Thành phố HCM (tức Sài Gòn) được cho đăng lá thư bằng chữ Nho
của HCM gởi cho vợ là bà Tăng Tuyết Minh. Tuy nhiên, ngay sau đó, do
nhu cầu chính trị cần nêu cao “tư tưởng Hồ Chí Minh” để bổ túc vào hệ
tư tưởng Mác-Lê đang bế tắc vì sự sụp đổ của Liên Xô, nên HCM vẫn còn
được nằm trong ngôi mộ đồ sộ ở Hà Nội, với sự cố vấn của các chuyên
gia Nga.
Hiện nay, tại Hà Nội, dư luận đồn rằng việc bảo trì không được tốt,
nên xác ông Hồ đã bị hư thối, và dư luận cũng cho rằng cái xác trong
lồng kính hiện đặt ở Ba Đình chỉ là hình nộm bằng sáp hóa học mà thôi.
(24)
Nhắm mục đích vinh danh sự thừa kế, sùng bái cá nhân và duy trì chế độ
độc tài đảng trị, Bộ chính trị đảng LĐ đã phản lại di chúc HCM, quyết
định xây lăng cho ông ta và xem lăng nầy là một quốc bảo. Việc tổ chức
mời các khách quý nước ngoài đến thăm lăng khi họ có dịp đến Việt Nam
trở thành thông lệ ngoại giao. Hai quốc gia có nhiều liên hệ văn hóa,
lịch sử, chính trị với Việt Nam trong giai đoạn cận và hiện đại là
Pháp và Hoa Kỳ, nhưng tổng thống hai nước nầy khi đến Hà Nội đều không
vào thăm lăng HCM.
Cả Pháp lẫn Hoa Kỳ đều có những viện nghiên cứu về Việt Nam, những học
giả, những chuyên gia uyên thâm về Việt Nam, thông biết rất đầy đủ
lịch sử, văn chương, chính trị, kinh tế Việt Nam.
Chắc chắn các chuyên viên của hai nước nầy đã có những đánh giá riêng
như thế nào về HCM, và lăng HCM, nên tổng thống Pháp, François
Mitterand, đến Việt Nam từ ngày 23 đến ngày 27-6-1993, và tổng thống
Hoa Kỳ, Bill Clinton, đến Việt Nam từ 16 đến 18-11-2000, đều không vào
lăng viếng HCM, tức không theo thông lệ ngoại giao cho các quốc khách
nước ngoài đến thăm viếng Hà Nội.
Trong khi đó, cả hai ông đều vào thăm Văn Miếu Hà Nội, nơi tụ khí anh
linh văn hóa cổ truyền dân tộc Việt Nam do vua Lý Thánh Tông (trị vì
1054-1072) lập ra năm 1070 (canh tuất).

Chú thích
1. Hồ Chí Minh, Toàn văn di chúc chủ tịch Hồ Chí Minh, TpHCM: Nxb.
Thanh Niên, 2000, tt. 13-16, 26-29.
2. Tuần báo Phụ Nữ, Hà Nội, 6-1-2000. (Báo Á Châu, Paris, số 43, tháng
3-2000, tt. 9-10, trích thuật lại.)
3. William J. Duiker, sđd. tr. 565, và phần chú thích số 3 tr. 669.
4. Tuần báo Phụ Nữ, Hà Nội, 6-1-2000.
5. VietBao Online, California, số 2359.
6. Hồ Chí Minh, Toàn văn di chúc…, sđd. tr. 8.
7. Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc, Nguyễn Phúc tộc thế phả, Huế: Nxb.
Thuận Hóa, 1995, tt. 219 (phần chú thích), 239.
8. Ronald Hingley, Joseph Stalin: Man and Legend [Joseph Stalin: Con
người và Huyền thoại], New York: Nxb. Konecky and Konecky, 1974, tr.
155.
9. Ronald Hingley, sđd. tt. 155-156, 424.
10. Roy Medvedev, Khrushchev, Brian Pearce dịch sang tiếng Anh, New
York: Nxb. Anchor Press/ Doubleday, 1983, tt. 83, 208.
11. Nguyễn Minh Cần, Công lý đòi hỏi, California: Nxb. Văn Nghệ, 1997,
tr. 90-91.
12. Hoàng Văn Chí, sđd. tr. 31.
13. James L. Watson và Evelyn S. Rawski chủ biên, Death Ritual in Late
Imperial and Modern China [Tang nghi ở Trung Hoa từ cuối thời quân chủ
đến thời hiện đại], California: Nxb. University of California Press,
1988, tr. 256.
14. James L. Watson và Evelyn S. Rawski chủ biên, sđd. tr. 278.
15. Robert Templer, Shadows and the Wind: A View of Modern VietNam
[Bóng và gió: một thoáng nhìn nước Việt Nam mới],New York: Nxb.
Penguin Books, 1999, tt. 41, 42. Người viết dịch lại theo văn bản
tiếng Anh.
16. Thông tấn xã Việt Nam, Việt Nam tạp chí, bản Anh ngữ, Hà Nội, số
204/1975, tt. 14-17.
17. William J. Duiker, sđd. tt. 565-566.
18. Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập A, sđd. tr. 256.
19. William J. Duiker, sđd. tr. 566.
20. Nguyễn Huy Thiệp, Những ngọn gió Hua Tát (tập truyện ngắn), Hà
Nội: Nxb. Văn Hóa, 1989, truyện ngắn “Vàng lửa”, tt. 169-178.
21. Sau năm 1975, khi cán bộ cộng sản Đà Nẵng kể công rằng đá cẩm
thạch lấy từ núi Non Nước gần Đà Nẵng đã được tải ra Bắc trong thời
gian chiến tranh để xây lăng “Bác”, thì người viết được nghe dân chúng
truyền miệng hai câu nầy, nói là xuất phát từ Hà Nội.
22. Viet Báo Online, Orange County, California, ngày 22-5-2001.
23. Trần Khuê và Nguyễn Thị Thanh Xuân, “Thư ngỏ gởi Đ/c Tổng bí thư
Nông Đức Mạnh”, TpHCM ngày 7-5-2001. (Tài liệu Internet, http://www.conong.com
tháng 6-2001.)
24. Robert Templer, sđd. tr. 43.


Chương 8

Huyền thoại danh nhân văn hóa thế giới

Như trên đã viết, đảng CSVN đã sáng tạo huyền thoại “tư tưởng Hồ Chí
Minh” để bổ túc cho hệ tư tưởng Mác-Lê đã bị loại bỏ từ sau sự sụp đổ
của các nước cộng sản Đông Âu và Liên Xô vào đầu thập niên 90. Muốn
cho “tư tưởng Hồ Chí Minh” tăng phần giá trị, CSVN tuyên truyền rằng
HCM được UNESCO vinh danh là một “danh nhân văn hóa thế giới”.(1)
Trong bản tin bằng Anh ngữ ngày 12-5-2005, báo điện tử VietNam News
của CSVN đã loan báo rằng tại Hà Nội vào ngày thứ Hai, 9-5-2005, diễn
ra cuộc hội thảo về “tư tưởng Hồ Chí Minh” nhân lễ kỷ niệm sinh nhật
thứ 115 của HCM, do trường Đại học Văn khoa và Bộ Văn hóa và Thông tin
tổ chức. Theo báo nầy, những người tham dự là những giáo sư, những nhà
nghiên cứu, đều “ca tụng Hồ Chí Minh, người được UNESCO thừa nhận là
một nhà văn hóa thế giới…”(2)

Không là Danh Nhân, thì trở thành Doanh Nhân !
Sự thật, HCM chưa bao giờ được UNESCO thừa nhận là một “danh nhân văn
hóa thế giới”. Xin hãy trở lại từ đầu câu chuyện nầy, bắt đầu từ Tổ
chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (United Nations
Educational, Scientific and Cultural Organization, viết tắt là
UNESCO).
Tổ chức UNESCO, trụ sở đặt tại Paris, hằng năm có thông lệ nhắc nhở
sinh nhật thứ 100 của các vĩ nhân các nước thành viên Liên Hiệp Quốc.
Vào năm 1987, phái đoàn Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN),
nhân được luân phiên tham gia vào ban Chấp hành Tiểu ban Văn hóa
UNESCO, đã đề cử HCM, lãnh tụ sáng lập đảng CSVN, vào “Danh sách danh
nhân văn hóa thế giới”, nhân dịp 100 năm sinh niên của HCM (1990).(3)
Theo sách Records of the General Conference [Tổng kết Đại hội đồng]
của Hội nghị khóa 24 của UNESCO diễn ra tại Paris từ ngày 20-10 đến
ngày 20-11-1987, tập 1 (bằng Anh ngữ, 215 trang), chủ đề
“Resolutions” [Quyết nghị], phần B là “General programme
activities” [Chương trình hoạt động tổng quát], mục 18 là “External
relations and public information” [Quan hệ ngoại vi và thông tin cộng
cộng], tiểu mục 18.65 ghi nhận việc đề cử vinh danh HCM vào năm 1990
(trang 134-135), kết thúc như sau: “Yêu cầu ông Tổng giám đốc UNESCO
thực hiện những giai đoạn thích hợp để kỷ niệm một trăm năm sinh niên
chủ tịch Hồ Chí Minh, và yểm trợ những hoạt động tưởng niệm trong dịp
nầy, đặc biệt những hoạt động tại Việt Nam.” (4)
Ngoài HCM, trong danh sách được đề nghị vinh danh năm 1990 còn có các
nhân vật: Phya Anuaman Rajadhon (Thái Lan), Thomas Munzer (Đức), Anton
Semionovitch Makarenko (Liên Xô), Jawaharlal Nerhu (Ấn Độ) và Sinan
(Thổ Nhĩ Kỳ). (5)
Lời tuyên dương tất cả các nhân vật được đề cử, kể cả HCM, do nhà cầm
quyền các nước liên hệ soạn trình. Sau khi được Tiểu ban Văn hóa chấp
thuận, Đại hội đồng UNESCO đã thông qua đề nghị trên mà không thảo
luận. Lúc đó, Tổng giám đốc UNESCO là Amadou-Mahtar M’Bow, người nước
Senegal (Tây Phi Châu). Ông M’Bow giữ chức vụ nầy hai nhiệm kỳ liên
tiếp từ 1974 đến 1987, nhờ sự hậu thuẫn của Liên Xô, các nước CS và
các nước Á Phi chống đối Hoa Kỳ.
Quyết định đề cử HCM vào “Danh sách danh nhân văn hóa thế giới” bị
cộng đồng người Việt hải ngoại phản đối khắp nơi trên thế giới. Tại
Paris, nơi đặt trụ sở của UNESCO, Uỷ Ban Tố Cáo Tội Ác Hồ Chí Minh
được thành lập, do ông Nguyễn Văn Trần làm Tổng thư ký. Uỷ ban nầy đã
hoạt động tích cực như sau:
1) Vận động người Việt và báo chí Việt ngữ ở hải ngoại (Bắc Mỹ, Úc
Châu, Âu Châu, Nhật Bản) viết thư cho UNESCO vạch trần tội ác của HCM
và chế độ CS trong nước, đồng thời phản đối việc đề cử HCM vào danh
sách danh nhân văn hóa thế giới.
Ý kiến phản đối lên đến khoảng 20,000 thư, đều được Giám đốc phụ trách
vùng Đông Nam Á của UNESCO chuyển cho Đại diện của Hà Nội tại UNESCO.
Ngoài ra, có người còn viết sách tố cáo HCM đã ăn cắp thơ của người
khác làm thơ của mình trong tập thơ Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong
tù). (Lê Hữu Mục, Hồ Chí Minh không phải là tác giả “Ngục trung nhật
ký”, Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Canada, 1990.)
2) Liên lạc và kêu gọi Uỷ Ban Tương Trợ Việt-Miên-Lào và Hội Người
Pháp Đông Dương (ANAI: Association Nationale des Anciens D’Indochine)
gồm gia đình Pháp kiều, cựu quân nhân Pháp phục vụ tại ba nước Đông
Dương, lên tiếng tố cáo HCM và đảng CSVN đã vi phạm nhân quyền đối với
tù binh Pháp sau chiến tranh Đông Dương. Lúc đó, một học giả Pháp nổi
tiếng là Jean-François Revel, tác giả các sách: Ni Marx ni Jesus
(1970), La tentation totalitaire (1976), Comment les démocraties
finissent (1983), khi nghe tin UNESCO dự tính vinh danh HCM đã viết
một bài báo vào đầu năm 1990, nói rõ HCM đã lợi dụng ước mơ tự do để
nô lệ hóa dân chúng, và cho rằng ”đây là một trường hợp phạm tội gia
trọng, một vụ ăn cắp, một vụ lừa bịp không hơn kém...”(6)
3) Liên hệ với Thị xã Paris và một số dân biểu, nghị sĩ Pháp để đề
nghị họ đưa vấn đề ra trước Quốc hội Pháp, nhắm yêu cầu chính phủ Pháp
có ý kiến với UNESCO về đề nghị vinh danh HCM, vì trụ sở của tổ chức
nầy đặt tại Paris.
Trong khi cuộc vận động đang diễn tiến, thì vào cuối thập niên 80, có
ba sự kiện quan trọng xảy ra:
1) Trong nội bộ UNESCO, tổng giám đốc Amadou-Mahtar M’Bow thôi giữ
chức tổng giám đốc, và Frederico Mayor Zaragoza, nhân sĩ Tây Ban Nha,
đắc cử chức tổng giám đốc. (Frederico Mayor Zaragoza làm tổng giám đốc
từ 1987 đến 1999). Ông không ủng hộ nhóm thiên tả, và không ủng hộ
việc đề cử HCM vào “Danh sách danh nhân văn hóa thế giới”. Ông Mayor
tuyên bố không thể hủy bỏ quyết nghị năm 1987 vì chỉ có Đại hội đồng
của UNESCO mới có quyền nầy, nhưng ông cũng cho biết UNESCO sẽ không
tổ chức lễ vinh danh HCM. Thực tế là ngân khoản năm 1990 do tổng giám
đốc Mayor soạn thảo không có ngân khoản cho công việc nầy. Hồ sơ lưu
trữ về những hoạt động trong hai năm 1990, 1991 của UNESCO hoàn toàn
không đề cập gì đến việc vinh danh HCM.(7)
2) Tại Việt Nam, số người vượt biên càng ngày càng cao. Từ năm 1975
đến năm 1989 (trước thời điểm Cao Uỷ Tỵ Nạn LHQ ra lệnh khóa sổ các
trại tỵ nạn, không nhận người vượt biên), số người vượt biên đến được
nơi tạm dung lên đến khoảng 900,000 người, không kể số người tử nạn
trên đường vượt biên.(8)
3) Các nước CS Đông Âu bắt đầu lung lay và sụp đổ từ cuối năm 1989 đầu
năm 1990.
Cuộc vận động của Uỷ Ban Tố Cáo Tội Ác Hồ Chí Minh, phản ứng của Cộng
đồng người Việt khắp thế giới, và ba sự kiện quan trọng trên đây, đã
ảnh hưởng mạnh mẽ đến UNESCO và cuối cùng UNESCO quyết định không thi
hành việc đề cử HCM vào “Danh sách danh nhân văn hóa thế giới”. UNESCO
cũng thông báo cho nhà cầm quyền Hà Nội biết, đại để như sau:
- UNESCO không tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm sinh niên của HCM tại Paris,
cũng thư tại Hà Nội.
- Thuận cho Tòa Đại sứ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ở Paris thuê
một phòng tại trụ sở UNESCO để tự tổ chức, nhưng UNESCO không cử đại
diện tham dự lễ.
- Trong buổi lễ, ban Tổ chức không được tuyên truyền rằng UNESCO đã đề
cao HCM là danh nhân văn hóa thế giới, không được treo ảnh HCM trong
hội trường.
- Thiệp mời chỉ được ghi là “tham dự buổi văn nghệ”.
Tuy UNESCO quy định như vậy, nhưng tòa Đại sứ CHXHCNVN vẫn lén lút làm
giấy mời có nội dung vinh danh HCM để gởi cho người Việt, còn in 100
giấy mời chính thức đề là “tham dự buổi văn nghệ” để gởi người ngoại
quốc, nhắm tránh bị UNESCO khiển trách.
Sau khi UNESCO quyết định như trên, tòa Đại sứ CHXHCNVN tại Paris thuê
một phòng tại trụ sở UNESCO ở Paris để tổ chức buổi trình diễn văn
nghệ vào trưa ngày 12-5-1989, đúng một tuần lễ trước sinh nhật của HCM.
(9)
Buổi trình diễn văn nghệ nầy, quy tụ khoảng 70 người hiện diện, bao
gồm cả ban tổ chức và nhóm “Việt kiều Yêu nước” là tổ chức do CSVN lập
ra. UNESCO và Pháp không cử đại diện đến dự. Chỉ có các nước CS gởi
người đến tham dự là Cuba, Bắc Hàn, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, Lào
và Cambodia.
Trong buổi trình diễn văn nghệ nầy, Đại sứ CHXHCNVN tại Pháp là Phạm
Bình không đọc diễn văn, mà chỉ có Nguyễn Kinh Tài, đại diện CHXHCNVN
tại UNESCO đọc bài viết ngắn về ý nghĩa buổi lễ, ca tụng sự nghiệp của
HCM, nhưng theo đúng tinh thần quyết định sau cùng của UNESCO, là
không đề cập gì đến vấn đề danh nhân văn hóa thế giới.
Tòa Đại sứ CSVN lập kế hoạch tổ chức trình diễn văn nghệ kỷ niệm lãnh
tụ của họ vào buổi trưa ngày 12-9, đúng một tuần lễ trước ngày sinh
của HCM, nhắm tạo bất ngờ để tránh bị biểu tình phản đối, nhưng Uỷ ban
Quốc tế Trần Văn Bá (mới được thành lập nên không là thành viên của Uỷ
ban Tố cáo Tội ác Hồ Chí Minh), đã kịp thời tổ chức một cuộc biểu tình
phản kháng gồm khoảng trên 100 người Việt, tại công trường Fontenoy,
gần trụ sở UNESCO.
Đại diện của đoàn biểu tình là các ông Trần Văn Tòng, Chủ tịch Uỷ ban
Quốc tế Trần Văn Bá, cùng với học giả Oliver Todd, thành viên sáng lập
UBQTTVB và bà Anne Marie Goussard, Tổng thư ký Hội Quốc tế Nhân quyền,
đến gặp ban Giám đốc UNESCO để hỏi rõ mục đích và ý nghĩa của buổi
sinh hoạt văn nghệ do CSVN tổ chức tại một phòng họp của UNESCO. Ban
Giám đốc UNESCO xác nhận với phái đoàn Uỷ ban Quốc tế Trần Văn Bá
rằng, đây là buổi văn nghệ do Tòa Đại sứ CHXHCNVN tại Pháp tổ chức,
chứ không phải là lễ vinh danh HCM của UNESCO.
Sau khi ban Giám đốc UNESCO xác nhận như trên, trong cuộc họp của Uỷ
ban Quốc tế Trần Văn Bá tại trung tâm Maubert Mutualité (Paris 5ème)
vào lúc 6 giờ chiều cùng ngày 12-5-1989, học giả Oliver Todd đã lên
diễn đàn tường trình lại cuộc tiếp xúc với Ban Giám đốc UNESCO.
Trong khi tường trình, ít nhất Oliver Todd đã hai lần nói rõ rằng Ban
Giám đốc UNESCO xác nhận rằng UNESCO không tổ chức vinh danh HCM, và
cũng cho biết buổi trình diễn văn nghệ nhân kỷ niệm một trăm năm sinh
niên HCM vào chiều hôm đó, là do sáng kiến của Tòa Đại sứ CHXHCNVN mà
thôi.
Cũng cần ghi nhận thêm, Bùi Tín, lúc còn là đại tá Bộ đội CSVN, đã có
mặt trong buổi lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của HCM, do CSVN tổ chức
tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội, ngày 19-5-1990, cho biết không có đại
diện của UNESCO đến dự,(10) nghĩa là UNESCO cũng chẳng yểm trợ cho
CSVN tổ chức lễ kỷ niệm HCM ngay tại Việt Nam.
Sự kiện UNESCO không tổ chức lễ vinh danh HCM là danh nhân văn hóa thế
giới, là thành quả của những vận động của cộng đồng Việt Nam hải ngoại
và nhất là Uỷ Ban Tố Cáo Tội Ác Hồ Chí Minh tại Paris. Điều nầy cho
thấy cộng đồng người Việt hải ngoại là một đối lực chính trị quan
trọng đối với chế độ cộng sản hiện nay ở trong nước. Chỉ tiếc là sau
khi thành công trong việc vận động UNESCO không thi hành việc vinh
danh HCM, cộng đồng người Việt hải ngoại và Uỷ Ban Tố Cáo Tội Ác Hồ
Chí Minh không trình thuật toàn bộ nội vụ và kết quả, thật rõ ràng và
thật rộng rãi trên khắp thế giới, để tránh việc tuyên truyền mờ ám và
đánh lận con đen của CSVN.
Như thế, tổ chức UNESCO chưa bao giờ vinh danh HCM là danh nhân văn
hóa thế giới. Đó là sự thật của câu chuyện được các người tham dự tại
chỗ kể lại và được các tài liệu của UNESCO ghi nhận. Nếu ai chưa tin,
thì có thể liên lạc thẳng với những người trong cuộc, đã từng chứng
kiến tại chỗ việc nầy, hiện còn sống ở Paris để hỏi cho rõ.
Ngoài ra, hồ sơ của UNESCO vẫn còn đó, rộng mở cho tất cả những nhà
nghiên cứu, kể cả những nhà nghiên cứu CHXHCNVN. Thời đại nầy là thời
đại khoa học thông tin tiến bộ, mọi dữ kiện đều được ghi nhận cụ thể,
nên mọi người có thể sưu tra dễ dàng trong các văn khố, nhất là những
nguồn tin không thuộc loại bí mật quốc gia như việc vinh danh một nhà
hoạt động chính trị, chẳng cần gì phải để thời hạn lâu ngày mới công
bố.
Nói thêm cho rõ: Nếu UNESCO quả thật có vinh danh ông HCM, thì phải có
văn bản vinh danh cụ thể, chứ không phải bằng lời nói suông. Trong
trường hợp đó, chắc chắn nhà nước CHXHCNVN sẽ tổ chức lễ tiếp nhận văn
bản vinh danh rất long trọng, chứ không im tiếng như lâu nay, và chắc
chắn nhà cầm quyền CHXHCNVN sẽ làm ảnh sao (photocopy) văn bản nầy,
công bố lên khắp mạng lưới thông tin toàn cầu để thu phục lòng người
khắp trên thế giới. Hơn nữa, ảnh sao nầy sẽ được treo khắp hang cùng
ngõ hẻm tại Việt Nam, kể cả bắt treo kèm với hình HCM tại nhà của mỗi
người dân.
Người Việt Nam còn nhớ rõ, mỗi khi một di tích ở Việt Nam được UNESCO
thừa nhận là di sản văn hóa thế giới như Mỹ Sơn (Quảng Nam), cổ thành
Huế, Vịnh Hạ Long…, nhà nước CHXHCNVN đã làm lễ đón nhận sắc bằng của
UNESCO ồn ào cờ trống suốt cả tháng trời, quảng cáo khắp thế giới,
huống gì là chuyện HCM.

Chú thích
1. Phan Văn và Nguyễn Huy Chương,
Nhập môn Khoa học Thư viện Thông tin, Hà Nội: Trung tâm Thông tin Thư
viện Đại học Quốc gia Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, tr. 21
2. VietNam News (12-05-2005), “Seminar focuses on Ho Chi Minh’s
Ideas”. (<http://vienamnews.vnnet.vn/showarticle.php?
num=05SOC120505>).
3. Nghiêm Văn Thạch, tài liệu đưa lên Internet ngày 4-1-2005, và tài
liệu Phan Văn Song đưa lên Internet vào cuối tháng 5-2005. Theo Bùi
Tín, bài đưa lên Internet và các báo đăng lại vào tháng 8-2005, thì
thư đề nghị do bộ trưởng cộng sản Võ Đông Giang, chủ tịch UNESCO của
Việt Nam, ký ngày 14-7-1987.
4. Nguyên văn Anh ngữ: “Requests the Director-General of UNESCO to
take appropriate steps to celebrate the centenary of the birth of
President Ho Chi Minh and to lend his support to commemorative
activities organized on that occasion, inparticular those taking place
in Viet Nam.” Để truy tìm các quyết nghị của UNESO, xin vào:
http://unesdoc.unesco.org/ulis/cfgdoc_25c.html, tại khung “Simple
search”, điền chữ “Resolutions”, gõ vào “Go”, ra kết quả. Muốn xem
riêng quyết nghị năm 1987, xin kéo xuống “UNESCO. General Conference;
24th; 1987.”
5. UNESCO, sđd., phần “Mục lục”, tr. VII.
6. Bản dịch đăng trên nguyệt san Thế Kỷ 21, Garden Grove, California,
số 120, tháng 4-1999, tt. 31-32.
7. Đại hội đồng UNESCO được triệu tập hai năm một lần, nên hai năm mới
có một bản tổng kết sinh hoạt UNESCO. (1986-1987, 1988-1989,
1990-1991).
8. Theo thống kê do Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc đưa ra năm 2000, nhật
báo Người Việt Online, ngày 1-4-2005, Giao Chỉ, “Lịch sử 30 năm định
cư tỵ nạn 1975-2005″.
9. Bác sĩ Nguyễn Ngọc Qùy, một nhà hoạt động chính trị kỳ cựu tại
Paris, nói chuyện trước Cộng đồng Việt Nam tại Montréal, vào ngày Chủ
nhật 25-4-2004.
10. Bùi Tín, bài báo đã dẫn.


Chương 9

Tổng kết về huyền thoại Hồ Chí Minh

Tóm lại, những huyền thoại về HCM do ông tự tạo ra, hay do các thuộc
hạ của ông dựng nên, đều là những phấn son giả tạo tô điểm hình tượng
HCM. Những huyền thoại nầy một thời đã đánh lừa được một số người Việt
Nam và thế giới.
Trong một cuộc phỏng vấn vào cuối năm 1999, sử gia Jean Louis
Margolin, giáo sư tại Université de Provence (Pháp), một trong các tác
giả viết bài trong sách
Le livre noir du communisme [Sách đen về chủ nghĩa cộng sản], đã nói:
“Thành thật mà nói, vào những năm 60, tôi đã từng xuống đường biểu
tình ủng hộ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, tôi đã từng reo mừng với
những cuộc chiến thắng tại Cam-bốt cũng như tại Việt Nam. Tôi từng
nghe nói đến những vụ tàn sát Tết Mậu Thân 68, nhưng tôi tin và nghĩ
rằng đó chỉ là sự tuyên truyền của Mỹ. Không phải chỉ một mình tôi, mà
tôi tin rằng rất nhiều người cùng thời với tôi đã bị sai lầm vì những
tuyên truyền sai lạc của cộng sản.” (Tập san Việt Nam Dân Chủ, số 40,
California, tháng 1-2000)
Ở trong nước, HCM và đảng CSVN dùng những huyền thoại nầy để phỉnh gạt
lòng tin của thanh niên và dân chúng, lôi kéo họ xung trận, sẵn sàng
hy sinh cho chủ thuyết và tham vọng của HCM cũng như của đảng CS, để
rồi sau khi thành công, đảng CS phản bội lại dân chúng và phản bội lại
cả chính những người đã hy sinh cho CS.
Dần dần, dòng sông thời gian rửa sạch lớp phấn son giả tạo, làm bay đi
những huyền thoại, để lộ ra khuôn mặt thật của HCM. Trước kia, những
huyền thoại đã vinh danh HCM chừng nào, thì nay chính những huyền
thoại đó đã chôn vùi HCM chừng đó.
Hồ Chí Minh ra nước ngoài để kiếm sống, xin vào học trường Thuộc Địa
ra làm quan, hay HCM có nhiều vợ, đều là chuyện bình thường, chẳng có
gì đáng nói, nhưng tự quảng cáo rằng mình ra đi tìm đường cứu nước,
sống độc thân vì đại nghĩa dân tộc, là một người đạo đức giả nếu không
muốn nói là một tên lừa bịp láo khoét. Hồ Chí Minh chẳng có tư tưởng
gì, lại được đảng CS thậm xưng là nhà tư tưởng, càng khiến cho người
đời mỉa mai. Hồ Chí Minh chẳng bao giờ được UNESCO vinh danh là danh
nhân văn hóa thế giới mà trong nước vẫn tuyên truyền ngược lại mà
không biết xấu hổ.
Những chuyện đơn giản như vậy mà còn gian dối thì có điều gì là thật
nữa. Do đó, có thể nói hình ảnh của HCM trong lịch sử bị hủy hoại một
phần vì những huyền thoại do ông tự tạo hay do đảng CSVN tạo ra cho
ông.
Phải thẳng thắn thừa nhận rằng HCM là một nhân vật lớn của lịch sử
hiện đại Việt Nam. Ông đã lập nhiều thành tích đáng kể và đáng nể.
Những thành tích nầy tốt hay xấu, có lợi hay có hại cho nhân dân Việt
Nam, đó là sự phán xét của nhân dân. Lột trần những huyền thoại HCM là
việc làm cần thiết để trả lại cho Nguyễn Sinh Cung những gì thật sự
của Nguyễn Sinh Cung.

(còn tiếp)

0 new messages